- Sutta Nipāta 5.4
Puṇṇakamāṇavapucchā
“Anejaṁ mūladassāviṁ, (iccāyasmā puṇṇako) Atthi pañhena āgamaṁ; Kiṁ nissitā isayo manujā, Khattiyā brāhmaṇā devatānaṁ; Yaññamakappayiṁsu puthūdha loke, Pucchāmi taṁ bhagavā brūhi me taṁ”.
Bản dịch
Puṇṇakamāṇavapucchā
(Tôn giả Puṇṇaka nói:) “Với ý định hỏi câu hỏi, tôi đã đi đến với bậc không dục vọng, bậc có sự nhìn thấy gốc rễ (của các pháp): ‘Nương tựa vào điều gì, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn đã chuẩn bị lễ hiến tế đến chư Thiên, đông đảo tại nơi này, ở thế gian. Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) bất cứ những ai, các vị ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn đã chuẩn bị lễ hiến tế đến chư Thiên, đông đảo tại nơi này, ở thế gian, này Puṇṇaka, trong khi mong ước bản thể này, bị phụ thuộc vào tuổi già, họ đã chuẩn bị lễ hiến tế.”
(Tôn giả Puṇṇaka nói:) “Bất cứ những ai, các bậc ẩn sĩ, loài người, các Sát-đế-lỵ, các Bà-la-môn đã chuẩn bị lễ hiến tế đến chư Thiên, đông đảo tại nơi này, ở thế gian, thưa đức Thế Tôn, những người ấy, không xao lãng ở đường lối tế lễ, thưa ngài, có phải họ đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) những kẻ mong ước, tán dương, cầu khấn, cúng tế, cầu khấn các dục bởi vì lợi lộc, Ta nói rằng: ‘Những kẻ ấy, do sự gắn bó vào tế lễ, bị luyến ái với sự ái luyến vào hiện hữu, đã không vượt qua sanh và già.’”
(Tôn giả Puṇṇaka nói:) “Thưa ngài, quả thật những kẻ ấy do sự gắn bó vào tế lễ đã không vượt qua sanh và già nhờ vào những lễ hiến tế, thưa ngài. Thưa ngài, vậy giờ đây người nào ở thế giới chư Thiên và nhân loại đã vượt qua sanh và già? Thưa đức Thế Tôn, tôi hỏi ngài. Xin ngài hãy trả lời tôi về điều này.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Puṇṇaka,) sau khi đã suy xét nơi này và nơi khác ở thế gian, đối với vị nào sự dao động là không có bất cứ đâu ở thế gian, có sự an tịnh, không còn sân hận, không phiền muộn, không mong cầu, Ta nói rằng: ‘Vị ấy đã vượt qua sanh và già.’”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
“Anejaṁ mūladassāviṁ, (iccāyasmā puṇṇako) Atthi pañhena āgamaṁ; Kiṁ nissitā isayo manujā, Khattiyā brāhmaṇā devatānaṁ; Yaññamakappayiṁsu puthūdha loke, Pucchāmi taṁ bhagavā brūhi me taṁ”.
“To the imperturbable, the seer of the root,” said Venerable Puṇṇaka, “I have come seeking with a question. On what grounds have seers and men, aristocrats and brahmins here in the world performed so many different <j>sacrifices to the gods? I ask you, Blessed One; please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Con đã đến với một câu hỏi, đến với bậc không còn dao động, bậc đã thấy được cội rễ. Nương tựa vào điều gì mà các ẩn sĩ, con người, các vị Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn ở thế gian này đã thực hiện nhiều lễ tế thần? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
“Ye kecime isayo manujā, (puṇṇakāti bhagavā) Khattiyā brāhmaṇā devatānaṁ; Yaññamakappayiṁsu puthūdha loke, Āsīsamānā puṇṇaka itthattaṁ; Jaraṁ sitā yaññamakappayiṁsu”.
“Whatever seers and men,” replied the Buddha, “aristocrats and brahmins here in the world have performed so many different <j>sacrifices to the gods: all performed sacrifices bound to old age, longing for this place.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Puṇṇaka, bất cứ ẩn sĩ, con người, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn nào đã thực hiện nhiều lễ tế thần ở thế gian này, họ làm vậy, này Puṇṇaka, vì mong cầu một sự hiện hữu nào đó. Nương tựa vào già, họ đã thực hiện các lễ tế.”
“Ye kecime isayo manujā, (iccāyasmā puṇṇako) Khattiyā brāhmaṇā devatānaṁ; Yaññamakappayiṁsu puthūdha loke, Kaccissu te bhagavā yaññapathe appamattā; Atāruṁ jātiñca jarañca mārisa, Pucchāmi taṁ bhagavā brūhi me taṁ”.
“As to those seers and men,” said Venerable Puṇṇaka, “and aristocrats and brahmins here in the world who have performed so many different <j>sacrifices to the gods: being diligent in the technique of sacrifice, have they crossed over rebirth and old age, good fellow? I ask you, Blessed One; please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Bất cứ ẩn sĩ, con người, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn nào đã thực hiện nhiều lễ tế thần ở thế gian này, thưa Đức Thế Tôn, phải chăng họ, những người không dể duôi trên con đường tế lễ, đã vượt qua được sanh và già, thưa Ngài? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
“Āsīsanti thomayanti abhijappanti juhanti, (puṇṇakāti bhagavā) Kāmābhijappanti paṭicca lābhaṁ; Te yājayogā bhavarāgarattā, Nātariṁsu jātijaranti brūmi”.
“Hoping, invoking, praying, and worshiping,” replied the Buddha, “they pray for pleasure derived from profit. Devoted to sacrifice, besotted by rebirth, they’ve not crossed over rebirth and old age, <j>I declare.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Họ mong cầu, họ tán thán, họ ao ước, họ cúng dường; họ ao ước các dục vọng duyên theo lợi lộc. Những người chuyên tâm tế lễ ấy, bị ái nhiễm trong hữu ái, Ta nói rằng họ đã không vượt qua được sanh và già.”
“Te ce nātariṁsu yājayogā, (iccāyasmā puṇṇako) Yaññehi jātiñca jarañca mārisa; Atha ko carahi devamanussaloke, Atāri jātiñca jarañca mārisa; Pucchāmi taṁ bhagavā brūhi me taṁ”.
“If those devoted to sacrifice,” said Venerable Puṇṇaka, “have not, by sacrificing, <j>crossed over rebirth and old age, who then in the world of gods and humans has crossed over rebirth and old age, good fellow? I ask you, Blessed One; please tell me this.”
(Tôn giả Puṇṇaka hỏi): “Thưa Ngài, nếu những người chuyên tâm tế lễ ấy đã không vượt qua được sanh và già bằng các lễ tế, vậy thì, thưa Ngài, ai trong thế giới của chư thiên và loài người đã vượt qua được sanh và già? Con xin hỏi Ngài điều đó, thưa Đức Thế Tôn, xin hãy nói cho con.”
“Saṅkhāya lokasmi paroparāni, (puṇṇakāti bhagavā) Yassiñjitaṁ natthi kuhiñci loke; Santo vidhūmo anīgho nirāso, Atāri so jātijaranti brūmī”ti.
“Having appraised the world high and low,” replied the Buddha, “there is nothing in the world that disturbs them. Peaceful, unclouded, untroubled, <j>with no need for hope—they’ve crossed over rebirth and old age, I declare.”
(Đức Thế Tôn đáp): “Này Puṇṇaka, người nào trong thế gian, sau khi đã thẩm sát các pháp cao thấp, không còn dao động ở bất cứ đâu trong thế gian; người ấy tịch tịnh, không còn khói (phiền não), không còn phiền muộn, không còn hy vọng. Ta nói rằng người ấy đã vượt qua được sanh và già.”
Puṇṇakamāṇavapucchā tatiyā.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Puṇṇaka, Phần Thứ Ba.