- Sutta Nipāta 5.17
Bản dịch
SNP 5.17 — Kinh Piṅgiya
Piṅgiyamāṇavapucchā
(Tôn giả Piṅgiya nói:) “Tôi đã già, yếu sức, không còn vẻ đẹp, cặp mắt không còn trong sáng, việc nghe không thoải mái, mong rằng tôi chớ mệnh chung ngay trong lúc mê muội. Xin ngài hãy chỉ bảo về Giáo Pháp để tôi có thể nhận thức sự lìa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Piṅgiya,) sau khi nhìn thấy những người bị sầu khổ ở các sắc, các hạng người xao lãng bị khổ sở ở các sắc, này Piṅgiya, vì thế, (là người) không xao lãng, ngươi hãy từ bỏ sắc để không còn hiện hữu lại nữa.”
“Bốn hướng chính, bốn hướng phụ, bên trên, bên dưới, đây là mười phương. Đối với ngài, không có điều gì ở thế gian là không được thấy, không được nghe, không được cảm giác, và không được nhận thức (bởi ngài). Xin ngài hãy chỉ bảo về Giáo Pháp để tôi có thể nhận thức sự lìa bỏ đối với sanh và già ở nơi đây.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Piṅgiya,) trong khi nhìn xem những người theo đuổi tham ái bị chế ngự bởi sự già, những con người ấy bị mệt mỏi, này Piṅgiya, vì thế, (là người) không xao lãng, ngươi hãy từ bỏ tham ái để không còn hiện hữu lại nữa.”
Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, rồi Mettagū, Dhotaka, và Upasīva, Nanda, rồi Hemaka.
Hai vị Todeyya, và Kappa, và vị sáng suốt Jatukaṇṇī, Bhadrāvudha, và Udaya, luôn cả Bà-la-môn Posāla, vị thông minh Mogharājā, và vị đại ẩn sĩ Piṅgiya.
Những vị này đã đi đến gặp đức Phật, bậc ẩn sĩ có đức hạnh đầy đủ. Trong khi hỏi các câu hỏi vi tế, họ đã đến gần đức Phật tối thượng.
Được hỏi những câu hỏi, đức Phật đã giải thích cho các vị ấy đúng theo bản thể (câu hỏi). Với việc giải thích các câu hỏi, bậc Hiền Trí đã làm hài lòng các vị Bà-la-môn.
Được hài lòng với đức Phật, bậc Hữu Nhãn, thân quyến của mặt trời, các vị ấy đã thực hành Phạm hạnh ở sự hiện diện của bậc có tuệ cao quý.
Theo như điều đã được thuyết giảng bởi đức Phật đối với từng câu hỏi một, người nào thực hành theo như thế có thể từ bờ bên này đi đến bờ kia.
Người tu tập đạo lộ tối thượng có thể từ bờ bên này đi đến bờ kia. Đạo lộ ấy đưa đến việc đi đến bờ kia, vì thế gọi là ‘Đi Đến Bờ Kia.’”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 5.17
The Questions of Piṅgiya
16. Câu hỏi của thanh niên Piṅgiya
“Jiṇṇohamasmi abalo vītavaṇṇo, (iccāyasmā piṅgiyo) Nettā na suddhā savanaṁ na phāsu; Māhaṁ nassaṁ momuho antarāva, Ācikkha dhammaṁ yamahaṁ vijaññaṁ; Jātijarāya idha vippahānaṁ”.
“I am old, feeble, and pallid,” said Venerable Piṅgiya, “my eyes unclear, my hearing faint—don’t let me perish while still confused. Explain the teaching so that I may understand the giving up of rebirth and old age here.”
(Trưởng lão Piṅgiya thưa rằng:) ‘Con đã già yếu, không sức lực, dung sắc phai tàn; mắt không còn trong sáng, tai nghe không còn dễ chịu. Mong rằng con không bị hoại vong trong khi còn si mê ở khoảng giữa. Xin hãy chỉ dạy Giáo pháp mà con có thể liễu tri, (pháp ấy là) sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây.’
“Disvāna rūpesu vihaññamāne, (piṅgiyāti bhagavā) Ruppanti rūpesu janā pamattā; Tasmā tuvaṁ piṅgiya appamatto, Jahassu rūpaṁ apunabbhavāya”.
“Seeing them being harmed <j>on account of forms,” replied the Buddha, “those negligent folk are inflicted <j>on account of forms—therefore, Piṅgiya, being diligent, give up form so as not to be reborn.”
(Thế Tôn phán:) ‘Này Piṅgiya, sau khi thấy (chúng sanh) bị phiền não trong các sắc, những người phóng dật bị hoại hoại trong các sắc. Do vậy, này Piṅgiya, ngươi hãy không phóng dật, hãy từ bỏ sắc để không còn tái sanh.’
“Disā catasso vidisā catasso, Uddhaṁ adho dasa disā imāyo; Na tuyhaṁ adiṭṭhaṁ asutaṁ amutaṁ, Atho aviññātaṁ kiñcanamatthi loke; Ācikkha dhammaṁ yamahaṁ vijaññaṁ, Jātijarāya idha vippahānaṁ”.
“The four quarters, the intermediate directions, below, and above: in these ten directions there’s nothing at all in the world that you’ve not seen, heard, thought, or cognized. Explain the teaching so that I may understand the giving up of rebirth and old age here.”
‘Bốn phương chánh, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới, đây là mười phương. Đối với Ngài, không có điều gì trong thế gian là chưa thấy, chưa nghe, chưa cảm nhận, hay chưa biết. Xin hãy chỉ dạy Giáo pháp mà con có thể liễu tri, (pháp ấy là) sự từ bỏ sanh và già ngay tại đây.’
“Taṇhādhipanne manuje pekkhamāno, (piṅgiyāti bhagavā) Santāpajāte jarasā parete; Tasmā tuvaṁ piṅgiya appamatto, Jahassu taṇhaṁ apunabbhavāyā”ti.
“Observing mankind sunk in craving,” replied the Buddha, “tormented, mired in old age; therefore, Piṅgiya, being diligent, give up craving so as not to be reborn.”
(Thế Tôn phán:) ‘Này Piṅgiya, trong khi nhìn thấy loài người bị ái dục chi phối, sanh ra trong phiền muộn, bị già nua áp bức. Do vậy, này Piṅgiya, ngươi hãy không phóng dật, hãy từ bỏ ái dục để không còn tái sanh.’
Piṅgiyamāṇavapucchā soḷasamā.
Câu hỏi của thanh niên Piṅgiya là (câu hỏi) thứ mười sáu.