- Sutta Nipāta 5.1
Vatthugāthā
Kosalānaṁ purā rammā, agamā dakkhiṇāpathaṁ; Ākiñcaññaṁ patthayāno, brāhmaṇo mantapāragū.
Bản dịch
Vatthugāthā
Có vị Bà-la-môn tinh thông chú thuật, trong khi ước nguyện về trạng thái vô sở hữu, từ thành phố đáng yêu của xứ Kosala đã đi đến khu vực phía Nam.
Vị ấy đã trú ngụ ở địa phận Assaka, kế bên vùng Aḷakassa, bên bờ sông Godhāvarī (sống) bằng vật lượm lặt và trái cây.
Và đã có một ngôi làng rộng lớn kề cận với bờ sông ấy. Với thu nhập phát sanh từ nơi ấy, vị Bà-la-môn đã sắp đặt một cuộc tế lễ vĩ đại.
Sau khi đã cống hiến cuộc tế lễ vĩ đại, vị Bà-la-môn đã đi vào lại nơi ẩn cư. Khi vị ấy đã đi vào trong, một người Bà-la-môn khác đã đi đến.
Và người ấy, với bàn chân bị sưng vù, run lập cập, có răng đóng bợn, với đầu lấm bụi, đã đi đến gần vị Bà-la-môn và cầu xin năm trăm (tiền).
Sau khi nhìn thấy kẻ ấy đấy, (Bà-la-môn) Bāvarī đã mời chỗ ngồi, đã hỏi về sự an lạc và tốt lành, rồi đã nói lời này:
“Quả thật, cái gì thuộc về tôi mà là vật có thể bố thí, thì tôi đã ban phát tất cả rồi. Này ông Bà-la-môn, xin hãy hiểu cho tôi, tôi không có năm trăm.”
“Nếu trong khi được tôi cầu xin, mà ngài không ban cho, thì vào ngày thứ bảy, cái đầu của ngài hãy bể tan thành bảy mảnh.”
Sau khi làm thủ thuật, kẻ dối trá ấy đã thốt lời hăm dọa. Sau khi nghe được lời nói ấy của kẻ ấy, Bāvarī đã trở nên sầu khổ.
(Vị ấy) trở nên héo mòn, không thức ăn, đã bị đâm trúng bởi mũi tên sầu muộn, Rồi cũng thế, đối với người có tâm như vậy, ý không vui thích trong việc tham thiền.
Sau khi nhìn thấy Bāvarī bị run sợ, bị sầu khổ, vị Thiên nhân có lòng mong mỏi điều tốt đẹp, đã đi đến gặp Bāvarī và đã nói lời này:
“Gã ấy không nhận biết về cái đầu. Gã dối trá ấy là kẻ tầm cầu tài sản. Sự hiểu biết của gã ấy về cái đầu hay về việc làm vỡ cái đầu không hiện hữu.”
“Thưa tiên nữ, nếu nàng biết, khi được tôi hỏi, xin nàng hãy nói với tôi về điều ấy, về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu. Chúng tôi xin lắng nghe lời nói của nàng về điều ấy.”
“Ngay cả tôi cũng không biết về điều này; sự hiểu biết của tôi về lĩnh vực này không hiện hữu. Kiến thức ở lĩnh vực này, cái đầu và việc làm vỡ cái đầu, chỉ riêng thuộc về các đấng Chiến Thắng.”
“Vậy thì hiện nay, ở trái đất hình cầu này, người nào biết về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu? Thưa tiên nữ, xin nàng hãy nói điều ấy cho tôi.”
“Bậc Lãnh Đạo Thế Gian, hậu duệ của đức vua Okkāka, con trai dòng Sakya, đấng Mặt Trời, trước đây đã ra đi từ thành Kapilavatthu.
Này Bà-la-môn, vị ấy chính là đấng Toàn Giác, bậc đã đi đến bờ kia đối với tất cả các pháp, đã đạt được năng lực của tất cả các thắng trí, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp, đã đạt đến sự cạn kiệt đối với tất cả các nghiệp, đã được giải thoát bởi sự cạn kiệt các mầm tái sanh.
Vị ấy là đức Phật, đấng Thế Tôn ở thế gian, bậc Hữu Nhãn thuyết giảng Giáo Pháp. Ông hãy đi đến và hỏi vị ấy. Vị ấy sẽ giải thích điều ấy cho ông.”
Sau khi nghe được câu nói “Đấng Toàn Giác,” Bāvarī đã trở nên phấn khởi. Nỗi sầu muộn của vị này đã trở thành nhỏ nhoi, và ông ta đã đạt được niềm vui bao la.
Vị Bāvarī ấy, có ý hài lòng, phấn khởi, sanh nỗi hân hoan, hỏi người tiên nữ ấy rằng: “Đấng Bảo Hộ Thế Gian ở ngôi làng hoặc ở phố thị nào, hay ở xứ sở nào? Chúng tôi sẽ đi đến nơi ấy và lễ bái đấng Toàn Giác, bậc tối thượng của loài người.”
“Đấng Chiến Thắng ở Sāvatthi, cung điện của xứ Kosala, có tuệ rộng lớn, có sự sáng suốt quảng đại cao quý. Người con trai dòng Sakya ấy không kẻ sánh bằng, không còn lậu hoặc, là bậc Nhân Ngưu, vị hiểu biết về việc làm vỡ cái đầu.”
Sau đó, vị Bà-la-môn đã bảo những người học trò tinh thông về chú thuật rằng: “Này các cậu thanh niên hãy đi đến, ta sẽ nói. Các ngươi hãy lắng nghe lời nói của ta.
Sự xuất hiện thường xuyên ấy của vị nào là điều khó đạt được ở thế gian, vị ấy hôm nay đã hiện khởi ở thế gian, được biết tiếng là “Đấng Toàn Giác.” Chúng ta hãy nhanh chóng đi đến Sāvatthi và diện kiến bậc tối thượng của loài người.”
“Thưa Bà-la-môn, vậy làm thế nào chúng con có thể biết là ‘Đức Phật’ sau khi nhìn thấy? Xin thầy hãy nói ra cho những người không biết chúng con để chúng con có thể nhận biết vị ấy.”
“Các tướng trạng của bậc đại nhân quả đã được lưu truyền ở các chú thuật, và ba mươi hai điều đã được thuật lại đầy đủ theo thứ tự.
Vị nào có những tướng trạng của bậc đại nhân này ở các phần thân thể, đối với vị ấy chỉ có hai lối đi, bởi vì lối đi thứ ba không có.
Nếu sống tại gia, vị ấy sẽ chinh phục trái đất này và cai quản đúng pháp, không nhờ vào gậy gộc, không nhờ vào gươm đao.
Và nếu vị ấy xuất gia, rời nhà sống không nhà, thì (sẽ) trở thành đấng Toàn Giác, bậc A-la-hán, đấng Vô Thượng, có màn che (vô minh) đã được xua tan.
Các ngươi hãy hỏi, chỉ bằng ý mà thôi, về việc sanh ra và về dòng họ, về tướng trạng, về các chú thuật, về các học trò, về những điều khác nữa (liên quan đến ta), về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu.
Nếu là đức Phật, bậc có sự nhìn thấy không bị chướng ngại, thì khi câu hỏi được hỏi bằng ý, (vị ấy) sẽ đáp lại bằng lời nói.”
Sau khi lắng nghe lời nói của Bāvarī, mười sáu vị Bà-la-môn học trò là: Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, rồi Mettagū, ...
Dhotaka, và Upasīva, Nanda, rồi Hemaka, hai vị Todeyya, và Kappa, và vị sáng suốt Jatukaṇṇī, ...
Bhadrāvudha, và Udaya, luôn cả Bà-la-môn Posāla, và vị thông minh Mogharājā, và vị đại ẩn sĩ Piṅgiya.
Tất cả là những vị có đồ chúng riêng, được nổi tiếng khắp cả thế gian, có thiền chứng, thích thú với thiền, sáng trí, đã được huân tập thành thói quen trong quá khứ.
Sau khi đã đảnh lễ Bāvarī, và thực hiện việc nhiễu quanh vị ấy, tất cả có tóc bện, mặc y da dê, đã ra đi hướng về phía bắc.
(Họ đã đi) đến Patiṭṭhāna của xứ sở Mūlaka trước tiên, rồi đến Māhissatī, luôn cả Ujjenī, Gonaddhā, Vedisā, và (thành phố) có tên Vana.
Rồi đến Kosambī, luôn cả sāketa, và thành phố hạng nhất Sāvatthi, Setavya, vùng đất Kapila, và cung điện Kusinārā.
Pāvā, và thành phố Bhogā, Vesālī, thành phố xứ Magadha, và điện thờ Pāsāṇakaṃ đáng yêu, thich ý.
Tựa như người bị khát nước được nước mát, tựa như thương buôn được lợi lớn, tựa như người bị thiêu đốt bởi sức nóng được bóng râm, họ đã vui mừng trèo lên ngọn núi.
Và vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn, được hội chúng tỳ khưu tôn vinh, thuyết giảng Giáo Pháp cho các vị tỳ khưu, tựa như con sư tử gầm thét ở khu rừng.
Ajita đã nhìn thấy đấng Toàn Giác tựa như mặt trời có trăm ánh hào quang, giống như mặt trăng đã tiến gần đến sự tròn đầy vào ngày mười lăm.
Rồi sau khi nhìn thấy các phần thân thể của vị này và dấu hiệu được đầy đủ, Ajita, đứng ở một bên, mừng rỡ, đã hỏi bằng ý các câu hỏi rằng:
“Xin Ngài hãy xác định và nói về việc sanh ra (của vị Bāvarī). Xin Ngài hãy nói về dòng họ cùng với tướng trạng. Xin Ngài hãy nói về sự toàn hảo ở các chú thuật. Vị Bà-la-môn (Bāvarī) dạy bảo được bao nhiêu?”
“Tuổi thọ là một trăm hai mươi. Và theo dòng họ vị ấy là Bāvarī. Ở thân thể vị này có ba tướng trạng. Là vị tinh thông về ba bộ Vệ Đà.
Là người đã đạt đến sự toàn hảo về pháp (Bà-la-môn) của mình, về tướng trạng và về lịch sử, về từ vựng và về nghi lễ, (Bāvarī) dạy bảo năm trăm (học trò).”
“Thưa bậc Tối Thượng Nhân, thưa bậc đã cắt đứt tham ái, xin Ngài hãy giải thích chi tiết về các tướng trạng của Bāvarī, xin chớ để chúng tôi bị hoài nghi.”
“(Người ấy) che khuất khuôn mặt bằng cái lưỡi, có sợi lông ở khoảng giữa chân mày của người này, vật được che giấu sau lớp vải (vật kín) được bọc lại; này người thanh niên, hãy biết như thế.”
Trong khi không nghe bất kỳ câu hỏi nào, mà đã nghe các câu hỏi được trả lời, tất cả mọi người sanh nỗi hân hoan, tay chắp lại, suy nghĩ rằng:
“Vậy thì vị Trời nào, hay đấng Đại Phạm, hoặc (Thiên vương) Inda chồng của Sujā, đã hỏi bằng ý những câu hỏi ấy? (Đức Phật) đáp lại điều này cho ai?”
“Vị Bāvarī hỏi về cái đầu và về việc làm vỡ cái đầu. Thưa đức Thế Tôn, xin Ngài hãy trả lời điều ấy. Thưa bậc ẩn sĩ, xin Ngài hãy xua đi nỗi nghi ngờ của chúng tôi.”
“Người hãy biết vô minh là ‘cái đầu,’ minh với việc đập vỡ cái đầu, được liên kết với tín, niệm, định, ... với ước muốn và tinh tấn.”
Do đó, với nỗi hân hoan lớn lao, sau khi trấn tĩnh lại người thanh niên Bà-la-môn đã khoác tấm da dê một bên vai, quỳ xuống đê đầu ở hai bàn chân (đức Phật và nói rằng):
“Thưa Ngài, Bà-la-môn Bāvarī, có tâm phấn khởi, có ý tốt lành, cùng với các học trò đảnh lễ hai bàn chân của Ngài, thưa bậc Hữu Nhãn.”
“Mong sao Bà-la-môn Bāvarī cùng với các học trò được an lạc. Và luôn cả ngươi nữa hãy được an lạc. Này người thanh niên, chúc người sống thọ.
Từ cơ hội đã được tạo ra, ngươi hãy hỏi mọi điều hoài nghi của tất cả, của Bāvarī, hoặc của ngươi, bất cứ điều gì ngươi mong muốn ở trong tâm.”
Với cơ hội đã được tạo ra bởi đấng Toàn Giác, Ajita đã ngồi xuống, chắp tay lại, tại nơi ấy đã hỏi đức Như Lai câu hỏi thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Kosalānaṁ purā rammā, agamā dakkhiṇāpathaṁ; Ākiñcaññaṁ patthayāno, brāhmaṇo mantapāragū.
From the fair city of the Kosalans to the southern region came a brahmin expert in hymns, aspiring to nothingness.
Vị Bà-la-môn thông suốt các thánh điển, mong cầu trạng thái vô sở hữu, từ một thành phố khả ái của xứ Kosala, đã đi đến miền Nam Lộ.
So assakassa visaye, aḷakassa samāsane; Vasi godhāvarīkūle, uñchena ca phalena ca.
He settled in a region under the shared dominion of Assaka and Muḷaka, where he lived on the bank of the Godāvarī River, getting by on gleanings and fruit.
Vị ấy sống trong lãnh địa của xứ Assaka, gần xứ Aḷaka, trên bờ sông Godhāvarī, bằng cách lượm lặt và bằng hoa quả.
Tasseva upanissāya, gāmo ca vipulo ahu; Tato jātena āyena, mahāyaññamakappayi.
He was supported by a prosperous village nearby. With the revenue earned from there he performed a great sacrifice.
Nương vào nơi ấy, một ngôi làng lớn đã được hình thành; với lợi tức phát sinh từ đó, vị ấy đã tổ chức một đại lễ tế tự.
Mahāyaññaṁ yajitvāna, puna pāvisi assamaṁ; Tasmiṁ paṭipaviṭṭhamhi, añño āgañchi brāhmaṇo.
When he had completed the great sacrifice, he returned to his hermitage once more. Upon his return, another brahmin arrived.
Sau khi cử hành đại lễ tế tự, vị ấy lại trở vào am thất. Khi vị ấy vừa trở vào, một vị Bà-la-môn khác đã đến.
Ugghaṭṭapādo tasito, paṅkadanto rajassiro; So ca naṁ upasaṅkamma, satāni pañca yācati.
Foot-sore and thirsty, with grotty teeth and dusty head, he approached the other and asked for five hundred coins.
Chân bị trầy xước, dáng vẻ khao khát, răng dính bùn, đầu đầy bụi bặm; vị ấy đến gần và xin năm trăm (đồng tiền).
Tamenaṁ bāvarī disvā, āsanena nimantayi; Sukhañca kusalaṁ pucchi, idaṁ vacanamabravi.
When Bāvari saw him, he invited him to sit down, asked of his happiness and well-being, and said the following.
Thấy vị ấy, Bāvarī mời ngồi, hỏi thăm sức khỏe an lành, và nói lời này.
“Yaṁ kho mama deyyadhammaṁ, Sabbaṁ visajjitaṁ mayā; Anujānāhi me brahme, Natthi pañcasatāni me”.
“Whatever I had available to give, I have already distributed. Believe me, brahmin, I don’t have five hundred coins.”
“Tất cả những vật dụng cúng dường của tôi, tôi đã cho đi hết rồi. Xin ngài Bà-la-môn thông cảm cho tôi, tôi không có năm trăm (đồng tiền).”
“Sace me yācamānassa, bhavaṁ nānupadassati; Sattame divase tuyhaṁ, muddhā phalatu sattadhā”.
“If, good fellow, you do not give me what I ask, then on the seventh day, let your head explode in seven!”
“Nếu ngài không cho tôi, người đang xin, thì vào ngày thứ bảy, đầu của ngài sẽ vỡ ra làm bảy mảnh.”
Abhisaṅkharitvā kuhako, bheravaṁ so akittayi; Tassa taṁ vacanaṁ sutvā, bāvarī dukkhito ahu.
After performing a ritual, that charlatan uttered his dreadful curse. When he heard these words, Bāvari became distressed.
Kẻ lừa đảo ấy, sau khi sắp đặt, đã thốt ra lời nguyền rủa đáng sợ. Nghe lời nói đó, Bāvarī trở nên đau khổ.
Ussussati anāhāro, Sokasallasamappito; Athopi evaṁ cittassa, Jhāne na ramatī mano.
Not eating, he grew emaciated, stricken by the dart of sorrow. And in such a state of mind, he could not enjoy absorption.
Bị mũi tên sầu muộn đâm phải, không ăn uống, vị ấy trở nên héo hon. Hơn nữa, với tâm trạng như vậy, tâm của vị ấy không còn an vui trong thiền định.
Utrastaṁ dukkhitaṁ disvā, Devatā atthakāminī; Bāvariṁ upasaṅkamma, Idaṁ vacanamabravi.
Seeing him anxious and distraught, a goddess wishing to help, approached Bāvari and said the following.
Thấy Bāvarī kinh hãi và đau khổ, một vị thiên nhân mong cầu lợi ích đã đến gần và nói lời này.
“Na so muddhaṁ pajānāti, Kuhako so dhanatthiko; Muddhani muddhapāte vā, Ñāṇaṁ tassa na vijjati”.
“That charlatan understands nothing about the head, he only wants money. When it comes to heads or head-splitting, he has no knowledge at all.”
“Kẻ ấy không biết gì về cái đầu, hắn là kẻ lừa đảo, chỉ ham muốn của cải. Hắn không có tri kiến về cái đầu hay sự vỡ đầu.”
“Bhotī carahi jānāsi, Taṁ me akkhāhi pucchitā; Muddhaṁ muddhādhipātañca, Taṁ suṇoma vaco tava”.
“Then you, Madam, must know—please answer my question. Let me hear what you say about heads and head-splitting.”
“Thưa ngài, nếu ngài biết, xin hãy nói cho tôi, người đang hỏi, về cái đầu và sự vỡ đầu. Chúng tôi xin lắng nghe lời của ngài.”
“Ahampetaṁ na jānāmi, Ñāṇamettha na vijjati; Muddhani muddhādhipāte ca, Jinānaṁ hettha dassanaṁ”.
“I too do not know that, I have no knowledge in that matter. When it comes to heads or head-splitting, it is the Victors who have vision.”
“Ta cũng không biết điều này, ta không có tri kiến về việc này. Về cái đầu và sự vỡ đầu, đó là tầm thấy của các bậc Chiến Thắng.”
“Atha ko carahi jānāti, Asmiṁ pathavimaṇḍale; Muddhaṁ muddhādhipātañca, Taṁ me akkhāhi devate”.
“So who then, in all this vast territory, does know about heads and head-splitting? Please tell me, goddess.”
“Vậy thì, thưa thiên nhân, trên cõi đất này, ai là người biết về cái đầu và sự vỡ đầu? Xin hãy nói cho tôi biết.”
“Purā kapilavatthumhā, Nikkhanto lokanāyako; Apacco okkākarājassa, Sakyaputto pabhaṅkaro.
“From the city of Kapilavatthu the World Leader has gone forth. He is a scion of King Okkāka, a Sakyan, and a beacon.
“Từ thành Kapilavatthu xưa, một vị Lãnh Đạo Thế Gian đã xuất thế. Ngài là hậu duệ của vua Okkāka, một vị Thích tử, người tạo ra ánh sáng.”
So hi brāhmaṇa sambuddho, Sabbadhammāna pāragū; Sabbābhiññābalappatto, Sabbadhammesu cakkhumā; Sabbakammakkhayaṁ patto, Vimutto upadhikkhaye.
For he, brahmin, is the Awakened One! He has gone beyond all things; he has attained to all knowledge and power; his eye sees clearly in all things, he has attained the end of all deeds; he is freed with the ending of attachments.
“Này Bà-la-môn, vị ấy là bậc Chánh Đẳng Giác, đã đến bờ kia của tất cả các pháp. Ngài đã đạt được tất cả thắng trí và năng lực, có con mắt đối với tất cả các pháp. Ngài đã đạt đến sự đoạn tận của tất cả nghiệp, được giải thoát trong sự đoạn tận của các phiền não căn bản.”
Buddho so bhagavā loke, Dhammaṁ deseti cakkhumā; Taṁ tvaṁ gantvāna pucchassu, So te taṁ byākarissati”.
That Buddha, the Blessed One in the world, the Clear-eyed One, teaches Dhamma. Go to him and ask—he will answer you.”
“Vị ấy là Đức Phật, Thế Tôn trong thế gian, bậc có mắt, đang thuyết giảng Chánh pháp. Ngài hãy đến hỏi vị ấy, vị ấy sẽ giải thích điều đó cho ngài.”
Sambuddhoti vaco sutvā, Udaggo bāvarī ahu; Sokassa tanuko āsi, Pītiñca vipulaṁ labhi.
When he heard the word “Buddha”, Bāvari was elated. His sorrow faded, and he was filled to brimming with joy.
Nghe lời “Chánh Đẳng Giác”, Bāvarī trở nên phấn khởi. Nỗi sầu muộn của vị ấy giảm bớt, và vị ấy có được niềm hỷ lạc to lớn.
So bāvarī attamano udaggo, Taṁ devataṁ pucchati vedajāto; “Katamamhi gāme nigamamhi vā pana, Katamamhi vā janapade lokanātho; Yattha gantvāna passemu, Sambuddhaṁ dvipaduttamaṁ”.
Uplifted, elated, and inspired, Bāvari questioned that goddess: “But in what village or town, or in what land is the protector of the world, where we may go and pay respects to the Awakened One, best of men?”
Bāvarī ấy, với tâm hoan hỷ, phấn khởi, và tràn đầy niềm vui, hỏi vị thiên nhân: “Vị Lãnh Đạo Thế Gian đang ở làng nào, thị trấn nào, hay xứ nào? Nơi nào chúng tôi có thể đến để diện kiến bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng giữa loài hai chân?”
“Sāvatthiyaṁ kosalamandire jino, Pahūtapañño varabhūrimedhaso; So sakyaputto vidhuro anāsavo, Muddhādhipātassa vidū narāsabho”.
“Near Sāvatthī, home of the Kosalans, <j>is the Victor abounding in wisdom, vast in intelligence. That Sakyan is indefatigable, free of defilements, that captain of men understands head-splitting.”
“Bậc Chiến Thắng đang ở Sāvatthī, trong cung điện của vua Kosala, Ngài có trí tuệ dồi dào, trí tuệ cao quý và sâu rộng. Vị Thích tử ấy, không còn sầu muộn, không còn lậu hoặc, bậc Nhân Ngưu, là người biết rõ về sự vỡ đầu.”
Tato āmantayī sisse, Brāhmaṇe mantapārage; “Etha māṇavā akkhissaṁ, Suṇātha vacanaṁ mama.
Therefore he addressed his acolytes, brahmins who had mastered the hymns: “Come, students, I shall speak. Listen to what I say.
Sau đó, vị ấy gọi các đệ tử, những Bà-la-môn thông suốt các thánh điển: “Này các thanh niên, hãy lại đây, ta sẽ nói cho các con nghe. Hãy lắng nghe lời của ta.”
Yasseso dullabho loke, Pātubhāvo abhiṇhaso; Svājja lokamhi uppanno, Sambuddho iti vissuto; Khippaṁ gantvāna sāvatthiṁ, Passavho dvipaduttamaṁ”.
Today has arisen in the world one whose appearance in the world is hard to find again—he is renowned as the Awakened One. Quickly go to Sāvatthī and see the best of men.”
“Sự xuất hiện của vị ấy ở thế gian thường rất hiếm có. Hôm nay, vị ấy đã xuất hiện trên thế gian, được biết đến là bậc Chánh Đẳng Giác. Hãy nhanh chóng đến Sāvatthī và diện kiến bậc Tối Thượng giữa loài hai chân.”
“Kathaṁ carahi jānemu, Disvā buddhoti brāhmaṇa; Ajānataṁ no pabrūhi, Yathā jānemu taṁ mayaṁ”.
“Brahmin, how then are we to know the Buddha when we see him? We don’t know, please tell us, so we can recognize him.”
“Thưa ngài Bà-la-môn, khi nhìn thấy, làm sao chúng con có thể biết đó là một vị Phật? Xin hãy chỉ dạy cho chúng con, những người chưa biết, để chúng con có thể nhận ra Ngài.”
“Āgatāni hi mantesu, Mahāpurisalakkhaṇā; Dvattiṁsāni ca byākkhātā, Samattā anupubbaso.
“The marks of a great man have been handed down in our hymns. Thirty-two have been described, complete and in order.
“Quả thật, trong các thánh điển có nói đến các tướng của bậc Đại nhân. Ba mươi hai tướng ấy đã được giải thích đầy đủ, theo thứ tự.”
Yassete honti gattesu, Mahāpurisalakkhaṇā; Dveyeva tassa gatiyo, Tatiyā hi na vijjati.
One upon whose body is found these marks of a great man has two possible destinies, there is no third.
“Người nào có những tướng của bậc Đại nhân này trên thân, người ấy chỉ có hai con đường, không có con đường thứ ba.”
Sace agāraṁ āvasati, Vijeyya pathaviṁ imaṁ; Adaṇḍena asatthena, Dhammena manusāsati.
If he stays at home, having conquered this land without rod or sword, he shall govern by principle.
“Nếu vị ấy sống tại gia, vị ấy sẽ chinh phục cõi đất này, cai trị bằng Chánh pháp, không cần đến roi vọt, không cần đến gươm đao.”
Sace ca so pabbajati, Agārā anagāriyaṁ; Vivaṭṭacchado sambuddho, Arahā bhavati anuttaro.
But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes an Awakened One, a perfected one, with veil cast off, supreme.
Và nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; vị ấy sẽ trở thành bậc Toàn Giác, vén mở tấm màn che, bậc A-la-hán, bậc Vô Thượng.
Jātiṁ gottañca lakkhaṇaṁ, Mante sisse punāpare; Muddhaṁ muddhādhipātañca, Manasāyeva pucchatha.
Ask him about my birth, clan, and marks, my hymns and acolytes; and further, about heads and head-splitting—but do so only in your mind!
Về dòng dõi, gia tộc, và tướng tốt, về các câu thần chú và các đệ tử khác nữa; về cái đầu và sự rơi rụng của cái đầu, các ngươi hãy chỉ hỏi bằng tâm ý.
Anāvaraṇadassāvī, Yadi buddho bhavissati; Manasā pucchite pañhe, Vācāya vissajessati”.
If he is the Buddha of unhindered vision, he will answer with his voice the questions in your mind.”
Nếu vị ấy là bậc Giác Ngộ, người thấy không chướng ngại; những câu hỏi được hỏi bằng tâm ý, vị ấy sẽ trả lời bằng lời nói.
Bāvarissa vaco sutvā, Sissā soḷasa brāhmaṇā; Ajito tissametteyyo, Puṇṇako atha mettagū.
Sixteen brahmin acolytes heard what Bāvari said: Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka and Mettagū,
Nghe lời của Bāvarī, mười sáu vị đệ tử Bà-la-môn: Ajita, Tissametteyya, Puṇṇaka, và Mettagū.
Dhotako upasīvo ca, Nando ca atha hemako; Todeyya-kappā dubhayo, Jatukaṇṇī ca paṇḍito.
Dhotaka and Upasīva, Nanda and then Hemaka, both Todeyya and Kappa, and Jatukaṇṇī the astute,
Dhotaka và Upasīva, Nanda và cả Hemaka; cả hai Todeyya và Kappa, và Jatukaṇṇī bậc trí tuệ.
Bhadrāvudho udayo ca, Posālo cāpi brāhmaṇo; Mogharājā ca medhāvī, Piṅgiyo ca mahāisi.
Bhadrāvudha and Udaya, and the brahmin Posāla, Mogharāja the intelligent, and Piṅgiya the great seer.
Bhadrāvudha và Udaya, và Bà-la-môn Posāla; Mogharājā bậc thông thái, và Piṅgiya vị đại ẩn sĩ.
Paccekagaṇino sabbe, Sabbalokassa vissutā; Jhāyī jhānaratā dhīrā, Pubbavāsanavāsitā.
Each of them had their own following, they were renowned the whole world over. Those attentive ones, <j>meditators who love absorption, were redolent with the potential <j>of their past deeds.
Tất cả đều là những người đứng đầu các nhóm riêng, nổi danh khắp thế gian; là những thiền giả, ưa thích thiền định, bậc hiền trí, được thấm nhuần bởi các khuynh hướng từ quá khứ.
Bāvariṁ abhivādetvā, Katvā ca naṁ padakkhiṇaṁ; Jaṭājinadharā sabbe, Pakkāmuṁ uttarāmukhā.
Having bowed to Bāvari, and circled him to his right, they set out for the north, with their dreadlocks and hides.
Sau khi đảnh lễ Bāvarī, và đi quanh ngài theo chiều bên phải; tất cả họ, những người mang bím tóc và mặc da thú, đã khởi hành hướng về phương bắc.
Aḷakassa patiṭṭhānaṁ, Purimāhissatiṁ tadā; Ujjeniñcāpi gonaddhaṁ, Vedisaṁ vanasavhayaṁ.
First to Patiṭṭhāna of Muḷaka, then on to the citadel of Māhissatī; to Ujjenī and Gonaddhā, and Vedisa, and Vanasa.
Đầu tiên, họ đến Patiṭṭhāna của xứ Aḷaka, rồi đến Ujjenī và Gonaddha, Vedisa và nơi gọi là Vanasa.
Kosambiñcāpi sāketaṁ, Sāvatthiñca puruttamaṁ; Setabyaṁ kapilavatthuṁ, Kusinārañca mandiraṁ.
Then to Kosambī and Sāketa, and the capital city of Sāvatthī; on they went to Setavyā and Kapilavatthu, and the homestead at Kusinārā.
Và cả Kosambī, Sāketa, và Sāvatthī, thành phố tốt đẹp nhất; Setabya, Kapilavatthu, và thành phố Kusinārā.
Pāvañca bhoganagaraṁ, Vesāliṁ māgadhaṁ puraṁ; Pāsāṇakaṁ cetiyañca, Ramaṇīyaṁ manoramaṁ.
To Pāvā they went, and Bhoga City, and on to Vesālī and the Magadhan city. Finally they reached the Pāsāṇaka Shrine, fair and delightful.
Và Pāvā, thành Bhoganagara, Vesālī, thành phố của xứ Māgadha; và đến Pāsāṇaka Cetiya, nơi đáng ưa thích, làm say mê lòng người.
Tasitovudakaṁ sītaṁ, Mahālābhaṁva vāṇijo; Chāyaṁ ghammābhitattova, Turitā pabbatamāruhuṁ.
Like a thirsty person to cool water, like a merchant to great profit, like a heat-struck person to shade, they quickly climbed the mountain.
Như người khát nước mong nước mát, như thương gia mong lợi lớn; như người bị nắng thiêu mong bóng râm, họ vội vã leo lên ngọn núi.
Bhagavā tamhi samaye, Bhikkhusaṅghapurakkhato; Bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti, Sīhova nadatī vane.
At that time the Buddha, at the fore of the mendicant Saṅgha, was teaching the mendicants the Dhamma, like a lion roaring in the jungle.
Thế Tôn vào lúc ấy, được Tăng chúng vây quanh; đang thuyết Pháp cho các vị Tỳ-khưu, như sư tử rống trong rừng.
Ajito addasa buddhaṁ, Sataraṁsiṁva bhāṇumaṁ; Candaṁ yathā pannarase, Pāripūriṁ upāgataṁ.
Ajita saw the Buddha, like the sun shining with a hundred rays, like the moon on the fifteenth day when it has come into its fullness.
Ajita đã thấy đức Phật, như mặt trời trăm tia sáng chói; như mặt trăng vào ngày rằm, đã đến lúc viên mãn tròn đầy.
Athassa gatte disvāna, Paripūrañca byañjanaṁ; Ekamantaṁ ṭhito haṭṭho, Manopañhe apucchatha.
Then he saw his body, complete in all features. Thrilled, he stood to one side and asked this question in his mind.
Rồi khi thấy trên thân của ngài, các tướng tốt đã được viên mãn; đứng một bên, lòng hoan hỷ, vị ấy đã hỏi những câu hỏi bằng tâm ý.
“Ādissa jammanaṁ brūhi, Gottaṁ brūhi salakkhaṇaṁ; Mantesu pāramiṁ brūhi, Kati vāceti brāhmaṇo”.
“Speak about the brahmin’s birth; of his clan; and his own marks; what hymns is he proficient in; and how many he teaches.”
Xin hãy nói rõ về sự sinh thành, xin hãy nói về gia tộc cùng với tướng tốt; xin hãy nói về sự toàn thiện trong các câu thần chú, vị Bà-la-môn ấy dạy dỗ bao nhiêu người?
“Vīsaṁ vassasataṁ āyu, So ca gottena bāvarī; Tīṇissa lakkhaṇā gatte, Tiṇṇaṁ vedāna pāragū.
“His age is a hundred and twenty. By clan he is a Bāvari. There are three marks on his body. He is a master of the three Vedas,
Một trăm hai mươi năm là tuổi thọ, và vị ấy thuộc gia tộc Bāvarī; ba tướng tốt có trên thân của vị ấy, vị ấy là bậc thông suốt ba tập Vệ-đà.
Lakkhaṇe itihāse ca, Sanighaṇḍusakeṭubhe; Pañcasatāni vāceti, Sadhamme pāramiṁ gato”.
the teachings on the marks, the testaments, the vocabularies, and the rituals. He teaches recitation to five hundred, and has reached proficiency in his own teaching.”
Về tướng học và sử thi, cùng với từ vựng và nghi lễ học; vị ấy dạy dỗ năm trăm người, đã đạt đến sự toàn thiện trong chánh pháp của mình.
“Lakkhaṇānaṁ pavicayaṁ, Bāvarissa naruttama; Kaṅkhacchida pakāsehi, Mā no kaṅkhāyitaṁ ahu”.
“O supreme man, cutter of craving, please reveal in detail Bāvari’s marks—let us doubt no longer!”
Xin hãy phân tích các tướng tốt của Bāvarī, hỡi bậc Tối Thắng giữa loài người; hỡi đấng đoạn trừ nghi hoặc, xin hãy tuyên thuyết, để chúng con không còn hoài nghi.
“Mukhaṁ jivhāya chādeti, Uṇṇassa bhamukantare; Kosohitaṁ vatthaguyhaṁ, Evaṁ jānāhi māṇava”.
“He can cover his face with his tongue; there is a tuft of hair between his eyebrows; his private parts are sheathed in a foreskin: know them as this, student.”
Vị ấy có thể dùng lưỡi che mặt, có lông trắng giữa hai hàng mày; và âm tàng được ẩn trong bao, này thanh niên, hãy biết như vậy.
Pucchañhi kiñci asuṇanto, Sutvā pañhe viyākate; Vicinteti jano sabbo, Vedajāto katañjalī.
Hearing the answers without having heard any questions, all the people, inspired, with cupped palms, wondered:
Không nghe bất cứ câu hỏi nào được hỏi, nhưng nghe các câu hỏi được giải đáp; tất cả mọi người, lòng tràn ngập hân hoan, chắp tay lại và suy tư.
“Ko nu devo vā brahmā vā, Indo vāpi sujampati; Manasā pucchite pañhe, Kametaṁ paṭibhāsati”.
“Who is it that asked a question with their mind? Was it a god or divinity? Or Indra, Sujā’s husband? To whom does the Buddha reply?”
Ai đang nói lời đáp này về những câu hỏi được hỏi bằng tâm ý? Một vị trời, hay một vị Phạm thiên, hay là vua trời Đế Thích, chồng của Sujā? Và ngài đang nói với ai?
“Muddhaṁ muddhādhipātañca, Bāvarī paripucchati; Taṁ byākarohi bhagavā, Kaṅkhaṁ vinaya no ise”.
“Bāvari asks about heads and head-splitting. May the Buddha please answer, and so, O seer, dispel our doubt.”
Về cái đầu và sự rơi rụng của cái đầu, Bāvarī đang hỏi; xin Thế Tôn hãy giải thích điều ấy, xin bậc Ẩn sĩ hãy xua tan nghi ngờ của chúng con.
“Avijjā muddhāti jānāhi, Vijjā muddhādhipātinī; Saddhāsatisamādhīhi, Chandaviriyena saṁyutā”.
“Know ignorance as the head, and knowledge as the head-splitter, when joined with faith, mindfulness, and immersion, and enthusiasm and energy.”
Hãy biết rằng vô minh là cái đầu, minh là thứ làm rơi rụng cái đầu; (minh ấy) được kết hợp với tín, niệm, và định, cùng với dục và tinh tấn.
Tato vedena mahatā, Santhambhitvāna māṇavo; Ekaṁsaṁ ajinaṁ katvā, Pādesu sirasā pati.
At that, the student, full of inspiration, arranged his antelope-skin cloak over one shoulder, and fell with his head to the Buddha’s feet.
Bấy giờ, với niềm hân hoan to lớn, được vững lòng, người thanh niên; vắt tấm da thú qua một bên vai, đã cúi đầu dưới chân (đức Phật).
“Bāvarī brāhmaṇo bhoto, Saha sissehi mārisa; Udaggacitto sumano, Pāde vandati cakkhuma”.
“Good fellow, the brahmin Bāvari together with his acolytes, elated and happy, bows to your feet, O Clear-eyed One!”
Bà-la-môn Bāvarī, cùng với các đệ tử, thưa ngài đáng kính; với tâm phấn khởi, lòng hoan hỷ, xin đảnh lễ chân của ngài, hỡi bậc có Tuệ nhãn.
“Sukhito bāvarī hotu, Saha sissehi brāhmaṇo; Tvañcāpi sukhito hohi, Ciraṁ jīvāhi māṇava.
“May the brahmin Bāvari be happy, together with his acolytes. And may you, too, be happy! May you live long, student.
Mong rằng Bà-la-môn Bāvarī được an lạc, cùng với các đệ tử; và mong rằng ngươi cũng được an lạc, hãy sống lâu, hỡi người thanh niên.
Bāvarissa ca tuyhaṁ vā, Sabbesaṁ sabbasaṁsayaṁ; Katāvakāsā pucchavho, Yaṁ kiñci manasicchatha”.
To Bāvari and you all I grant the opportunity to clear up all doubt. Please ask whatever you want.”
Đối với Bāvarī và đối với ngươi, và đối với tất cả mọi người, về tất cả mọi nghi ngờ; cơ hội đã được ban cho, hãy hỏi bất cứ điều gì các ngươi mong muốn trong tâm.
Sambuddhena katokāso, Nisīditvāna pañjalī; Ajito paṭhamaṁ pañhaṁ, Tattha pucchi tathāgataṁ.
Granted the opportunity by the Buddha, they sat down with cupped palms. Ajita asked the Realized One the first question right there.
Được bậc Toàn Giác cho phép, sau khi ngồi xuống, chắp tay lại; Ajita đã hỏi Như Lai câu hỏi đầu tiên tại nơi ấy.
Vatthugāthā niṭṭhitā.
The introductory verses are finished.
Phần Kệ Mở Đầu đã kết thúc.