- Sutta Nipāta 4.11
Bản dịch
SNP 4.11 — Kinh Cãi Cọ Và Tranh Cãi
Kalahavivādasutta
“Từ đâu khởi sanh các sự cãi cọ, các sự tranh cãi, các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn, các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc? Từ đâu chúng khởi sanh? Nào, xin Ngài hãy nói về điều ấy.”
“Từ vật được yêu thương, khởi sanh các sự cãi cọ, các sự tranh cãi, các sự than vãn, các nỗi sầu muộn, và thêm các sự bỏn xẻn, các sự ngã mạn, và ngã mạn thái quá, rồi thêm các việc nói đâm thọc. Các sự cãi cọ, các sự tranh cãi là có liên quan đến sự bỏn xẻn. Và ở các cuộc tranh cãi đã được sanh ra, có các việc nói đâm thọc.”
“Vậy các vật được yêu thương ở thế gian có căn nguyên từ đâu, và cũng do tham chúng (loài người) sống ở thế gian? Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi),―(nhân) đưa đến đời sống kế tiếp của con người,―có căn nguyên từ đâu?”
“Các vật được yêu thương ở thế gian có mong muốn là căn nguyên, và cũng do tham chúng (loài người) sống ở thế gian. Mong mỏi và sự thành tựu (của mong mỏi),―(nhân) đưa đến đời sống kế tiếp của con người,―có căn nguyên từ đây (sự mong muốn).”
“Vậy mong muốn ở thế gian có căn nguyên từ đâu? Hoặc luôn cả các phán đoán được khởi sanh từ đâu? Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ, hoặc luôn cả các pháp nào đã được bậc Sa-môn nói đến?”
“‘Khoái lạc, không khoái lạc’ là điều người ở thế gian đã nói; nương tựa vào điều ấy, mong muốn khởi sanh. Sau khi nhìn thấy sự biến mất và sự hình thành ở các sắc, con người ở thế gian tiến hành sự phán đoán.
Sự giận dữ, lời nói giả dối, và sự nghi ngờ, các pháp này (sanh lên) trong khi cặp đôi có mặt. Kẻ có sự nghi ngờ nên học tập theo lộ trình của trí. Các pháp đã được bậc Sa-môn nói lên sau khi Ngài đã biết.”
“Khoái lạc và không khoái lạc có căn nguyên từ đâu? Khi cái gì không có mặt, thì hai pháp này không có mặt? Về sự biến mất và sự hình thành, điều nào là ý nghĩa, xin ngài hãy nói cho tôi điều ấy có căn nguyên từ đâu?
“Khoái lạc và không khoái lạc có xúc là căn nguyên. Khi xúc không có mặt, hai pháp này không có mặt. Về sự biến mất và sự hình thành, điều nào là ý nghĩa, Ta nói cho ngươi điều ấy có căn nguyên từ đây.”
“Vậy xúc ở thế gian có căn nguyên từ đâu? Và các sự bám giữ được khởi sanh từ đâu? Khi cái gì không có mặt, thì không có trạng thái chấp là của tôi? Khi cái gì bị biến mất, thì các xúc không xúc chạm?”
“Các xúc tùy thuộc vào danh và sắc. Và các sự bám giữ có ước muốn là căn nguyên. Khi ước muốn không có mặt thì không có trạng thái chấp là của tôi. Khi sắc bị biến mất, thì các xúc không xúc chạm.”
“Đối với vị đã thành đạt thế nào thì sắc biến mất? Hạnh phúc hoặc luôn cả khổ đau biến mất thế nào? Xin ngài hãy nói cho tôi việc ấy biến mất ra sao, ‘chúng tôi nên biết điều ấy,’ ý nghĩ của tôi đã là thế ấy.”
“Không phải là có tưởng ở tưởng, không phải là có tưởng ở tưởng sai lệch, cũng không phải là không có tưởng, không phải là có tưởng bị biến mất; đối với vị đã thành đạt như vậy thì sắc biến mất, bởi vì cái gọi là vọng tưởng có tưởng là căn nguyên.”
“Điều mà chúng tôi đã hỏi ngài, ngài đã trả lời chúng tôi. Chúng tôi hỏi ngài điều khác. Nào, xin Ngài hãy nói về điều ấy. Có phải một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh đến chừng này là cao nhất, hay là họ còn nói về điều khác so với điều này?”
“Một số bậc sáng suốt ở nơi đây nói rằng sự trong sạch của chúng sanh chỉ đến chừng này là cao nhất. Trái lại, một số trong số đó nói về sự tịch diệt (đoạn kiến), tuyên bố là thiện xảo về trạng thái không còn dư sót.”
Và sau khi nhận biết những người này là ‘những kẻ nương tựa,’ sau khi nhận biết, bậc hiền trí ấy có sự cân nhắc về các sự nương tựa, sau khi nhận biết, bậc đã được giải thoát không đi đến tranh cãi, bậc sáng trí không đi đến tái sanh ở hữu và phi hữu.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 4.11
Quarrels and Disputes
11. Phần giải thích kinh Kalahavivāda
“Kutopahūtā kalahā vivādā, Paridevasokā sahamaccharā ca; Mānātimānā sahapesuṇā ca, Kutopahūtā te tadiṅgha brūhi”.
“Where do quarrels and disputes come from? And lamentation and sorrow, and stinginess? What of conceit and arrogance, and slander too—tell me please, where do they come from?”
Từ đâu sanh khởi cãi vã, tranh luận, cùng với than khóc, sầu muộn và keo kiệt? Từ đâu sanh khởi kiêu mạn, quá mạn, cùng với nói xấu, vu khống? Những điều ấy từ đâu sanh khởi, xin Ngài hãy nói rõ điều đó.
“Piyappahūtā kalahā vivādā, Paridevasokā sahamaccharā ca; Mānātimānā sahapesuṇā ca, Maccherayuttā kalahā vivādā; Vivādajātesu ca pesuṇāni”.
“Quarrels and disputes come from what we hold dear, as do lamentation and sorrow, stinginess, conceit and arrogance. Quarrels and disputes are linked to stinginess, and when disputes have arisen there is slander.”
Cãi cọ, tranh luận, than van, sầu muộn cùng với bỏn xẻn, chúng sanh khởi từ điều khả ái; ngã mạn, quá mạn cùng với nói hai lưỡi, (cũng vậy). Cãi cọ, tranh luận được liên kết với sự bỏn xẻn; và khi các cuộc tranh luận đã sanh khởi, thì có những lời nói hai lưỡi.
“Piyā su lokasmiṁ kutonidānā, Ye cāpi lobhā vicaranti loke; Āsā ca niṭṭhā ca kutonidānā, Ye samparāyāya narassa honti”.
“So where do things held dear <j>in the world spring from? And the lusts that are loose in the world? Where spring the hopes and aims a man has for lives to come?”
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ đâu? Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian? Hy vọng và sự thành tựu có nguồn gốc từ đâu, là những điều hiện hữu cho tương lai của con người?’
“Chandānidānāni piyāni loke,
“What we hold dear in the world spring from desire,
‘Các điều khả ái ở trong thế gian có nguồn gốc từ dục. Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian, hy vọng và sự thành tựu cũng có nguồn gốc từ đây, là những điều hiện hữu cho tương lai của con người.’
‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’ ‘Và những’ là các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, tại gia, xuất gia, chư thiên, và loài người. ‘Tham ái’ là sự tham, trạng thái tham, sự tham đắm, sự say mê, trạng thái say mê, sự say đắm, sự thèm muốn, tham, là gốc rễ bất thiện. ‘Đi lang thang’ là đi lang thang, trú ngụ, di chuyển, tồn tại, bảo trì, duy trì, tiếp tục. ‘Ở trong thế gian’ là ở trong ác giới ... (như trên) ... xứ giới. – (Đây là ý nghĩa của) ‘Và những tham ái nào đi lang thang ở trong thế gian?’
“Sự mong mỏi và sự thành tựu có nguyên nhân từ điều này” (là như vầy). Sự mong mỏi (āsā) được gọi là tham ái. Sự tham đắm nào, sự tham đắm mãnh liệt nào... cho đến... sự thèm muốn, lòng tham, là gốc rễ bất thiện. Về sự thành tựu (niṭṭhā) là như vầy: Ở đây, một người nào đó trong khi tìm kiếm các sắc, người ấy đạt được sắc, người ấy có sự thành tựu về sắc; (tìm kiếm) các thanh... các hương... các vị... các xúc... dòng dõi... hội chúng... trú xứ... lợi lộc... danh tiếng... lời tán dương... sự an lạc... y... vật thực khất thực... sàng tọa... dược phẩm trị bệnh và vật dụng... Kinh tạng... Luật tạng... Luận tạng... hạnh ở rừng... hạnh khất thực... hạnh mặc y phấn tảo... hạnh tam y... hạnh khất thực từng nhà... hạnh không nhận thêm vật thực sau khi đã đủ... hạnh ngồi... hạnh ở đâu cũng được... sơ thiền... nhị thiền... tam thiền... tứ thiền... không vô biên xứ định... thức vô biên xứ định... vô sở hữu xứ định... trong khi tìm kiếm phi tưởng phi phi tưởng xứ định, người ấy đạt được phi tưởng phi phi tưởng xứ định, người ấy có sự thành tựu về phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
“Những điều trở thành nơi nương tựa cho con người trong tương lai” (là như vầy): Những điều nào trở thành nơi nương tựa cho con người, trở thành hòn đảo, trở thành nơi che chở, trở thành nơi ẩn náu, trở thành nơi quy y, sự thành tựu, nơi nương tựa – (đây là ý nghĩa của) “những điều trở thành nơi nương tựa cho con người trong tương lai”.
“Chando nu lokasmiṁ kutonidāno,
“So where does desire in the world spring from?
Dục ở trên đời có nguyên nhân từ đâu, và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu? Sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi, và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến (sanh khởi từ đâu)?
“Và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu” (là như vầy): Các sự quyết đoán sanh khởi từ đâu, sanh từ đâu, được sanh khởi tốt đẹp từ đâu, được phát sanh từ đâu, được phát sanh hoàn toàn từ đâu, hiện khởi từ đâu; có gì làm nguyên nhân, có gì làm nguồn sanh khởi, có bản chất gì, có nguồn gốc gì? Như vậy, (vị ấy) hỏi về gốc rễ của các sự quyết đoán... cho đến... hỏi về nguồn sanh khởi, hỏi chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của) “và các sự quyết đoán cũng sanh khởi từ đâu”.
“Sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi” (là như vầy). Sân hận (kodho) là: sự hãm hại, sự chống đối của tâm có hình thức như vầy, sự va chạm, sự đối kháng, sự nổi giận, sự nổi giận đặc biệt, sự nổi giận hoàn toàn, sự sân hận, sự sân hận đặc biệt, sự sân hận hoàn toàn, sự ác ý của tâm, sự làm hại của tâm, sự phẫn nộ, sự tức giận, trạng thái tức giận, sự sân hận, sự làm hại, trạng thái làm hại, sự ác ý, sự làm ác, trạng thái làm ác, sự chống đối, sự đối kháng, tính hung dữ, sự thô lỗ, sự không hài lòng của tâm. Lời nói dối được gọi là lời đáng chê trách (mosavajjaṃ). Sự hoài nghi được gọi là sự phân vân (kathaṃkathā) – (đây là ý nghĩa của) “sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi”.
“Và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến” (là như vầy). “Và những pháp nào khác” là: những pháp nào câu hành, đồng sanh, tương hợp, tương ưng với sân hận, lời nói dối, và sự hoài nghi; có cùng sự sanh khởi, cùng sự diệt tận, cùng một vật nền, cùng một đối tượng – những pháp này được gọi là “những pháp nào khác”. Hoặc là, những phiền não nào có loại khác, có cách thức khác – những pháp này được gọi là “những pháp nào khác”. “Được vị Sa-môn nói đến” (là như vầy): bởi vị Sa-môn, người đã làm lắng dịu các điều ác; bởi vị Bà-la-môn, người đã loại trừ các pháp ác; bởi vị Tỳ-khưu, người đã phá tan gốc rễ phiền não; bởi người đã giải thoát khỏi mọi sự trói buộc của gốc rễ bất thiện, đã được nói, đã được tuyên thuyết, đã được chỉ dạy, đã được thuyết giảng, đã được chế định, đã được thiết lập, đã được khai mở, đã được phân tích, đã được làm cho rõ ràng, đã được công bố – (đây là ý nghĩa của) “và những pháp nào khác đã được vị Sa-môn nói đến”.
“Sātaṁ asātanti yamāhu loke, Tamūpanissāya pahoti chando; Rūpesu disvā vibhavaṁ bhavañca,
“What they call pleasure and pain in the world—based on that, desire comes about. Seeing the manifestation and vanishing of forms,
Điều gì được gọi là dễ chịu và không dễ chịu ở trên đời, nương vào điều ấy, dục sanh khởi; thấy sự hoại diệt và sự tồn tại của các sắc, chúng sanh ở trên đời đưa ra sự quyết đoán.
Chúng sinh trong đời thực hiện sự phán quyết. Phán quyết (vinicchaya) là có hai sự phán quyết – sự phán quyết của tham ái và sự phán quyết của tà kiến. Làm thế nào người ấy thực hiện sự phán quyết của tham ái? Ở đây, một người nào đó, tài sản chưa sanh thì không sanh khởi, và tài sản đã sanh thì đi đến tiêu vong. Người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Do phương cách nào mà tài sản chưa sanh của ta không sanh khởi, và tài sản đã sanh lại đi đến tiêu vong?’ Rồi người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Vì ta chuyên tâm vào việc uống rượu men, rượu nấu, là cơ sở của sự dể duôi, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc đi lang thang ngoài đường phố phi thời, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc xem hội hè đình đám…; vì ta chuyên tâm vào việc cờ bạc, là cơ sở của sự dể duôi…; vì ta chuyên tâm vào việc kết giao bạn xấu, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong; vì ta chuyên tâm vào việc lười biếng, nên tài sản chưa sanh không sanh khởi, và tài sản đã sanh đi đến tiêu vong.’ Biết như vậy, người ấy không thực hành sáu cửa ngõ của sự tiêu tán tài sản, và thực hành sáu cửa ngõ của sự tăng trưởng tài sản. Như vậy cũng là thực hiện sự phán quyết của tham ái.
Kodho mosavajjañca kathaṅkathā ca, Etepi dhammā dvayameva sante; Kathaṅkathī ñāṇapathāya sikkhe, Ñatvā pavuttā samaṇena dhammā”.
Anger, lies, and indecision—these things are, too, when that pair is present. One who is indecisive should train <j>in the path of knowledge; it is from knowledge <j>that the Ascetic speaks of these things.”
Sân hận, lời nói dối, và hoài nghi, các pháp này cũng chỉ có khi hai (lạc và khổ) tồn tại; Người có hoài nghi nên học tập theo con đường trí tuệ, các pháp đã được Sa-môn tuyên thuyết sau khi đã biết rõ.
“Sātaṁ asātañca kutonidānā, Kismiṁ asante na bhavanti hete; Vibhavaṁ bhavañcāpi yametamatthaṁ, Etaṁ me pabrūhi yatonidānaṁ”.
“Where do pleasure and pain spring from? When what is absent do these things not occur? And also, on the topic of <j>manifesting and vanishing—tell me where they spring from.”
Sự dễ chịu và không dễ chịu có nguyên nhân từ đâu, khi cái gì không có mặt thì những điều này không hiện hữu? Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này, xin hãy nói cho con biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đâu.
“Phassanidānaṁ sātaṁ asātaṁ, Phasse asante na bhavanti hete; Vibhavaṁ bhavañcāpi yametamatthaṁ, Etaṁ te pabrūmi itonidānaṁ”.
“Phasso nu lokasmi kutonidāno,
“Pleasure and pain spring from contact; when contact is absent they do not occur. And on the topic of <j>manifesting and vanishing—I tell you they spring from there.”
“So where does contact in the world spring from?
Sự dễ chịu và không dễ chịu có xúc làm nguyên nhân, khi xúc không có mặt thì những điều này không hiện hữu. Và ý nghĩa của sự hoại diệt và sự hiện hữu này, Ta nói cho ngươi biết điều ấy, (chúng) có nguyên nhân từ đây.
(Câu) 'Và các sự chấp thủ sanh từ đâu?' là như vầy. Các sự chấp thủ sanh từ đâu, sanh từ đâu, sanh khởi từ đâu, được tạo ra từ đâu, được tạo ra một cách trọn vẹn từ đâu, biểu hiện từ đâu? Có nhân gì, có nguồn sanh gì, có nơi sanh gì, có nguồn gốc gì? (Vị ấy) hỏi về gốc rễ của các sự chấp thủ, hỏi về nhân... hỏi về nguồn sanh, hỏi một cách chi tiết, thỉnh cầu, yêu cầu, làm cho hoan hỷ – (đây là ý nghĩa của câu) 'và các sự chấp thủ sanh từ đâu?'.
(Câu) 'Khi cái gì không có thì không có 'cái của ta'?' là như vầy. Khi cái gì không có, không hiện hữu, không có, không được tìm thấy, (thì) 'cái của ta' không có, không hiện hữu, không tồn tại, không được tìm thấy, đã được đoạn trừ, đã được cắt đứt, đã được lắng dịu, đã được làm cho an tịnh, không có khả năng tái sanh, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ – (đây là ý nghĩa của câu) 'khi cái gì không có thì không có 'cái của ta'?'.
(Câu) 'Khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?' là như vầy. Khi cái gì đã hoại diệt, đã hoại diệt một cách đặc biệt, đã vượt qua, đã vượt qua hoàn toàn, đã đi qua xa, (thì) các xúc không chạm đến – (đây là ý nghĩa của câu) 'khi cái gì đã hoại diệt thì các xúc không chạm đến?'.
“Nāmañca rūpañca paṭicca phasso, Icchānidānāni pariggahāni; Icchāyasantyā na mamattamatthi, Rūpe vibhūte na phusanti phassā”.
“Name and form cause contact; possessions spring from wishing; when wishing is absent there is no possessiveness; when form vanishes, contacts don’t strike.”
Duyên danh và sắc, xúc (sanh khởi), các sự chấp thủ có dục làm nhân; Khi dục không có, không có 'cái của ta', khi sắc đã hoại diệt, các xúc không chạm đến.
“Kathaṁ sametassa vibhoti rūpaṁ,
“Form vanishes for one proceeding how?
Làm thế nào sắc được vượt qua đối với người đã thực hành? Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua? Xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua, tâm con đã khởi lên rằng: “Chúng con sẽ biết được điều đó”.
Về câu “Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua?”, (nghĩa là) làm thế nào lạc và khổ được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa? – (Đây là ý nghĩa của câu) “Làm thế nào lạc và khổ cũng được vượt qua?”.
Về câu “Xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua”. “Điều đó” là: điều con hỏi, điều con thỉnh cầu, điều con khẩn khoản, điều con làm cho hoan hỷ – (đó là) “điều đó”. “Xin hãy giảng giải cho con” là: xin hãy giảng giải cho con, xin hãy chỉ dạy, thuyết giảng, xin hãy chế định, xin hãy thiết lập, xin hãy mở bày, xin hãy phân tích, xin hãy làm cho rõ ràng, xin hãy tuyên thuyết – (đó là) “xin hãy giảng giải cho con”. “Về cách thức nó được vượt qua” là: theo cách nào nó được vượt qua, được vượt qua một cách đặc biệt, được vượt qua, được vượt qua hoàn toàn, được vượt qua xa – (đó là) “xin hãy giảng giải cho con về cách thức nó được vượt qua”.
Về câu “Tâm con đã khởi lên rằng: ‘Chúng con sẽ biết được điều đó’”. “Chúng con sẽ biết được điều đó” là: chúng con nên biết điều đó, chúng con nên biết rõ, chúng con nên biết tường tận, chúng con nên biết thấu đáo, chúng con nên thâm nhập – (đó là) “chúng con sẽ biết được điều đó”. “Tâm con đã khởi lên như vậy” là: tâm của con đã khởi lên như vậy, tâm của con đã khởi lên như vậy, tư duy của con đã khởi lên như vậy, thức của con đã khởi lên như vậy – (đó là) “tâm con đã khởi lên rằng: ‘Chúng con sẽ biết được điều đó’”.
“Na saññasaññī na visaññasaññī, Nopi asaññī na vibhūtasaññī; Evaṁ sametassa vibhoti rūpaṁ, Saññānidānā hi papañcasaṅkhā”.
“Without normal perception <j>or distorted perception; not lacking perception, nor perceiving what has vanished. Form vanishes for one proceeding thus; for judgments due to proliferation spring from perception.”
Không phải là người có tưởng bình thường, không phải là người có tưởng sai lạc, cũng không phải là người vô tưởng, không phải là người có tưởng đã biến mất. Đối với người đã thực hành như vậy, sắc được vượt qua; vì các pháp hý luận có tưởng làm nhân.
“Yaṁ taṁ apucchimha akittayī no, Aññaṁ taṁ pucchāma tadiṅgha brūhi; Ettāvataggaṁ nu vadanti heke, Yakkhassa suddhiṁ idha paṇḍitāse; Udāhu aññampi vadanti etto”.
“Whatever I asked you have explained to me. I ask you once more, please tell me this: Do some astute folk here say that this <j>is the highest extent of purity of the spirit? Or do they say it is something else?”
Điều mà chúng con đã hỏi, Ngài đã giải đáp cho chúng con. Chúng con xin hỏi Ngài điều khác, xin Ngài hãy nói điều đó. Phải chăng ở đây, một số bậc hiền trí cho rằng sự thanh tịnh cao tột của chúng sanh chỉ có chừng ấy thôi? Hay họ còn nói có (sự thanh tịnh) nào khác vượt hơn thế nữa?
“Ettāvataggampi vadanti heke, Yakkhassa suddhiṁ idha paṇḍitāse; Tesaṁ paneke samayaṁ vadanti, Anupādisese kusalā vadānā.
“Some astute folk do say that this <j>is the highest extent of purity of the spirit. But some of them, claiming to be experts, speak of an occasion when there is no residue.
Một số vị được xem là bậc trí ở đây tuyên bố rằng sự thanh tịnh của yakkha là cao tột dường ấy. Và một số vị trong số họ, những người được cho là khéo léo, tuyên bố về một học thuyết ở trong trạng thái vô dư.
Ete ca ñatvā upanissitāti, Ñatvā munī nissaye so vimaṁsī; Ñatvā vimutto na vivādameti,
Knowing that these states are dependent, and knowing what they depend on, <j>the inquiring sage, having understood, is freed, and enters no dispute.
Và sau khi đã biết rõ các điều này là có nơi nương tựa, sau khi đã biết rõ, bậc mâu-ni ấy đã thẩm sát các nơi nương tựa. Sau khi đã biết rõ, vị đã được giải thoát không đi đến sự tranh luận, bậc hiền trí không đi đến sự hiện hữu và không hiện hữu.
Bhavābhavāya na sameti dhīroti (Bậc trí không đi đến sự hiện hữu và không hiện hữu). Bhavābhavāyāti (Về sự hiện hữu và không hiện hữu) là: vì sự hiện hữu, vì nghiệp hữu, vì tái sanh hữu, vì dục hữu; vì nghiệp hữu, vì dục hữu, vì tái sanh hữu, vì sắc hữu; vì nghiệp hữu, vì sắc hữu, vì tái sanh hữu, vì vô sắc hữu; vì nghiệp hữu, vì vô sắc hữu, vì tái sanh hữu, vì sự hiện hữu lặp đi lặp lại, vì thú lặp đi lặp lại, vì sự sanh khởi lặp đi lặp lại, vì sự tái sanh lặp đi lặp lại, vì sự tự thể lặp đi lặp lại, vì sự phát sanh lặp đi lặp lại, vị ấy na sameti (không đi đến), na samāgacchati (không đi đến cùng), na gaṇhāti (không nắm giữ), na parāmasati (không chấp thủ), nābhinivisati (không hướng tâm vào). Dhīroti (Bậc trí) là: dhīro (bậc trí tuệ), paṇḍito (bậc hiền trí), paññavā (người có trí tuệ), buddhimā (người có giác tuệ), ñāṇī (người có tri kiến), vibhāvī (người sáng suốt), medhāvī (người có mẫn tuệ). – (Đây là ý nghĩa của) bhavābhavāya na sameti dhīro.
Kalahavivādasuttaṁ ekādasamaṁ.
Phần giải thích kinh Cãi Vã và Tranh Luận, chương thứ mười một.