- Sutta Nipāta 3.6
Sabhiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sabhiyasutta
(Sabhiya nói) “Có sự phân vân, có sự hoài nghi, tôi đã đi đến, trong khi mong muốn hỏi những câu hỏi, xin ngài hãy là người giải quyết dứt điểm chúng. Được tôi hỏi những câu hỏi, xin ngài hãy tuần tự trả lời tôi thuận theo pháp.”
(Đức Thế Tôn nói) “Này Sabhiya, ngươi đã từ xa đi đến, trong khi mong muốn hỏi những câu hỏi, Ta là người giải quyết dứt điểm chúng. Được hỏi, Ta (sẽ) tuần tự trả lời ngươi thuận theo pháp.
Này Sabhiya ngươi hãy hỏi Ta bất cứ câu hỏi nào mà ngươi muốn ở trong tâm, Ta (sẽ) giải quyết dứt điểm từng câu hỏi một cho ngươi.”
(Sabhiya nói) “Đã đạt được điều gì khiến người ta gọi là ‘tỳ khưu’? Do (thành tựu) cái gì (gọi là) ‘khéo an tịnh’? Và như thế nào được gọi là ‘đã được huấn luyện’? Như thế nào được gọi là ‘đức Phật’? Thưa đức Thế Tôn, được tôi hỏi, xin ngài hãy trả lời.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) vị đã tự mình thực hành theo đường lối, đã đi đến sự tịch diệt hoàn toàn (ô nhiễm), đã vượt qua sự hoài nghi, đã lìa bỏ (hai thái cực) phi hữu và hữu, đã được hoàn mãn, có sự tái sanh đã được cạn kiệt, vị ấy là ‘tỳ khưu.’
Vị hành xả trong mọi trường hợp, có niệm, vị ấy không hãm hại bất cứ ai ở toàn thể thế gian, vị đã vượt qua, được tịnh lặng, không bị vẩn đục, vị nào không có các (thái độ) kiêu ngạo, vị ấy là ‘khéo an tịnh.’
Vị nào có các giác quan đã được tu tập, ở nội phần và ở ngoại phần, ở toàn thể thế gian, sau khi thấu triệt đời này và đời sau, vị đã được tu tập chờ đợi thời điểm, vị ấy là ‘đã được huấn luyện.’
Vị đã hiểu rõ toàn bộ các kiếp sống, về sự luân hồi ở cả hai trường hợp chết và tái sanh, vị có ô nhiễm đã được xa lìa, không còn vết nhơ, hoàn toàn trong sạch, vị đã đạt đến sự diệt trừ tái sanh, người ta gọi vị ấy là ‘đức Phật.’
(Sabhiya nói) “Đã đạt được điều gì khiến người ta gọi là ‘Bà-la-môn’? Do (thành tựu) cái gì (gọi là) ‘Sa-môn’? Và như thế nào được gọi là ‘người gột rửa (tội)’? Như thế nào được gọi là ‘bậc Long Tượng’? Thưa đức Thế Tôn, được tôi hỏi, xin ngài hãy trả lời.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) sau khi loại trừ tất cả các điều ác, là người không còn bợn nhơ, tốt lành, định tỉnh, có bản thân vững chãi, vị ấy đã vượt qua luân hồi, có sự thành tựu, không bị lệ thuộc, tự tại, được gọi là Bà-la-môn.”
Vị đã được yên lặng, sau khi từ bỏ thiện và ác, lìa khỏi ô nhiễm, sau khi biết được đời này và đời sau, đã vượt lên trên sanh và tử, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘Sa-môn.’
Sau khi đã gột rửa sạch tất cả các điều ác, nội phần và ngoại phần, ở toàn thể thế gian; giữa chư Thiên và nhân loại chịu sự phân hạng, vị không đi đến sự phân hạng, người ta gọi vị ấy là ‘người gột rửa (tội).’
Vị không làm bất cứ điều ác xấu nào ở thế gian, sau khi tháo gở tất cả các sự ràng buộc (và) các sự trói buộc, không bám víu vào bất cứ nơi đâu, đã được giải thoát, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc Long Tượng.’”
(Sabhiya nói) “Người nào chư Phật nói là ‘bậc chiến thắng đồng ruộng’? Do (thành tựu) cái gì (gọi là) ‘bậc thiện xảo’? Và như thế nào được gọi là ‘bậc sáng suốt? Như thế nào được gọi là ‘bậc hiền trí’? Thưa đức Thế Tôn, được tôi hỏi, xin ngài hãy trả lời.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) Vị đã hiểu rõ toàn diện về các đồng ruộng (mười hai xứ) thuộc cõi trời, thuộc loài người, và đồng ruộng thuộc Phạm Thiên, được thoát khỏi sự trói buộc căn bản của tất cả các đồng ruộng, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc chiến thắng đồng ruộng.’
Vị đã hiểu rõ toàn diện về các kho chứa (nghiệp) thuộc cõi trời, thuộc loài người, và kho chứa thuộc Phạm Thiên, được thoát khỏi sự trói buộc căn bản của tất cả các kho chứa, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc thiện xảo.’
Vị đã hiểu rõ các xứ về cả hai lãnh vực, nội phần và ngoại phần, vị có sự trong sạch và trí tuệ, đã vượt lên trên đen và trắng, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc sáng suốt.’
Vị đã biết được bản chất của những kẻ xấu và của những người tốt, nội phần và ngoại phần, ở tất cả thế gian, vị được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại, vị đã vượt qua sự quyến luyến và mạng lưới, vị ấy là ‘bậc hiền trí.’”
(Sabhiya nói) “Đã đạt được điều gì khiến người ta gọi là ‘bậc đã đạt được sự thông hiểu’? Do (thành tựu) cái gì (gọi là) ‘bậc đã nhận biết được’? Và như thế nào được gọi là ‘bậc có sự tinh tấn’? Như thế nào được có tên là ‘bậc thuần chủng’? Thưa đức Thế Tôn, được tôi hỏi, xin ngài hãy trả lời.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) Vị đã hiểu rõ toàn diện về kiến thức các loại thuộc về các Sa- môn, thuộc về các Bà-la- môn, vị đã xa lìa sự luyến ái ở tất cả các cảm thọ, vị đã vượt qua mọi kiến thức, vị ấy là ‘bậc đã đạt được sự thông hiểu.’
Vị đã nhận biết được các pháp chướng ngại, danh và sắc nội phần và ngoại phần, nền tảng của các tật bệnh, vị đã được thoát khỏi sự trói buộc căn bản của tất cả các tật bệnh, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc đã nhận biết được.’
Vị đã lánh xa tất cả các việc ác xấu ở đời này, đã vượt qua sự khổ đau ở địa ngục, có tinh tấn là nơi cư ngụ, vị ấy, có sự nỗ lực, sáng suốt, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc có sự tinh tấn.’
Đối với vị nào, các sự trói buộc có thể đã được cắt lìa, nội phần và ngoại phần, gốc rễ của sự quyến luyến, vị đã được thoát khỏi sự trói buộc căn bản của tất cả các sự quyến luyến, vị tự tại, có bản thể như thế, được gọi là ‘bậc thuần chủng.’”
(Sabhiya nói) “Đã đạt được điều gì khiến người ta gọi là ‘bậc thiện tri thức’? Do (thành tựu) cái gì (gọi là) ‘bậc Thánh’? Và như thế nào được gọi là ‘có tánh hạnh’? Như thế nào được có tên là ‘bậc du sĩ’? Thưa đức Thế Tôn, được tôi hỏi, xin ngài hãy trả lời.”
(Đức Thế Tôn nói: “Này Sabhiya,) vị đã lắng nghe và biết rõ mọi pháp ở thế gian, bất cứ điều gì có tội hay không có tội, vị đã chế ngự, không còn hoài nghi, đã được giải thoát, không phiền muộn về mọi phương diện, người ta đã gọi là ‘bậc thiện tri thức.’
Vị đã cắt đứt các lậu hoặc, (và) các pháp tiềm ẩn, sau khi đã hiểu biết, vị ấy không đi đến việc trú ở thai bào, sau khi đã xua đi ba loại tưởng, (và) bãi lầy (ngũ dục), vị không đi đến sự phân hạng, người ta gọi vị ấy là ‘bậc Thánh.’ Āsavāni: là bốn lậu gồm có: dục lậu, hữu lậu, tà kiến lậu, và vô minh lậu. Ālayāni: là hai pháp tiềm ẩn: tham ái và tà kiến (SnA. ii, 433).
Vị nào đã đạt được mục đích về các tánh hạnh ở trong Giáo Pháp này, vị thiện xảo vào mọi lúc, đã hiểu biết Giáo Pháp, không bám víu vào bất cứ nơi đâu, đã được giải thoát, vị nào không có các sự bất bình, vị ấy là ‘có tánh hạnh.’
Sau khi đã lánh xa bất kỳ nghiệp nào có quả báu khổ đau, ở bên trên và bên dưới, luôn cả bên ngang và khoảng giữa, có sự du hành với trí tuệ, vị đã làm chấm dứt sự xảo quyệt, ngã mạn, luôn cả tham lam và giận dữ, danh và sắc, người ta đã gọi vị ấy là ‘bậc du sĩ” đã đạt được mục đích.”
“Thưa bậc có tuệ bao la, bậc đã đi đến nơi tận cùng của các dòng lũ, sau khi đã xua tan ba và sáu mươi tà thuyết được dựa vào giáo điều của các Sa-môn (ngoại đạo), được nương tựa vào tưởng và sự suy diễn của tưởng. Ba và sáu mươi tà thuyết; tức là sáu mươi hai tà kiến đã được đề cập ở Brahmajālasutta (Kinh Phạm Võng thuộc Trường Bộ 1) cộng với sakkāyadiṭṭhi - thân kiến (SnA. ii, 434-435).
Ngài là bậc đã đi đến tận cùng, bậc đã đi đến bờ kia của khổ đau. Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, con nghĩ rằng Ngài có lậu hoặc đã được cạn kiệt. Ngài sáng láng, sâu sắc, có trí tuệ dồi dào. Thưa bậc đã làm chấm dứt khổ đau, ngài đã đưa con vượt qua (hoài nghi).
Khi ngài đã biết con có điều nghi ngờ, ngài đã đưa con vượt qua sự hoài nghi, xin kính lễ ngài. Thưa bậc hiền trí, vị đã đạt được mục đích ở đạo lộ trí tuệ, bậc không cứng nhắc, vị thân quyến của mặt trời, ngài là khéo an tịnh.
Thưa bậc hữu nhãn, nghi ngờ nào của con đã có trước đây, ngài đều giải thích điều ấy cho con. Ngài quả thật là bậc hiền trí đã được hoàn toàn giác ngộ, không có sự che lấp nào đối với ngài.
Và mọi sự sầu muộn của ngài đều đã được tan vỡ, đã được làm cho tiêu hoại. Ngài có trạng thái mát lạnh, đã đạt đến sự thu thúc, có sự kiên quyết, có thế mạnh là sự chân thật.
Trong khi ngài đây, bậc long tượng của các loài long tượng, bậc đại anh hùng đang nói, tất cả chư Thiên, luôn cả hai nhóm Nārada và Pabbata, đều tùy hỷ.
Thưa bậc siêu nhân, xin kính lễ ngài. Thưa bậc tối thượng nhân, xin kính lễ ngài. Ở thế gian luôn cả chư Thiên, không có kẻ nào sánh bằng ngài.
Ngài là đức Phật, ngài là bậc đạo sư, ngài là bậc hiền trí, đấng chế ngự Ma Vương. Sau khi cắt đứt các pháp tiềm ẩn và đã vượt qua, ngài đưa dòng dõi này vượt qua.
Các mầm tái sanh đã được ngài vượt qua, các lậu hoặc đã được ngài phá tan. Ngài là loài sư tử, không còn chấp thủ, đã dứt bỏ nỗi sợ hãi và khiếp đảm.
Giống như đóa sen trắng xinh đẹp không bị vấy bẩn ở nước, tương tự như thế, ngài không bị vướng bận ở thiện và ác, cả hai loại. Thưa đấng anh hùng, xin ngài hãy duỗi ra hai bàn chân, Sabhiya xin đảnh lễ hai bản chân của đấng đạo sư.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Sabhiya
6. Tôi nghe như vầy – Một thời, Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, một vị thiên, là quyến thuộc cũ của du sĩ Sabhiya, đã nêu lên những câu hỏi: “Này Sabhiya, vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, khi được ngươi hỏi những câu này, có thể giải đáp được, ngươi hãy thực hành phạm hạnh nơi vị ấy.”
Atha kho sabhiyo paribbājako tassā devatāya santike te pañhe uggahetvā ye te samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa, seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo makkhaligosālo ajito kesakambalo pakudho kaccāno sañcayo belaṭṭhaputto nigaṇṭho nāṭaputto—te upasaṅkamitvā te pañhe pucchati. Te sabhiyena paribbājakena pañhe puṭṭhā na sampāyanti; asampāyantā kopañca dosañca appaccayañca pātukaronti. Api ca sabhiyaṁyeva paribbājakaṁ paṭipucchanti.
Then Sabhiya, after learning those questions in the presence of that deity, approached those ascetics and brahmins who led an order and a community, and taught a community, who were well-known and famous religious founders, deemed holy by many people. That is, Pūraṇa Kassapa, the bamboo-staffed ascetic Gosāla, Ajita of the hair blanket, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhiputta, and the Jain ascetic of the Ñātika clan. And he asked them those questions, but they were stumped by them. Displaying annoyance, hate, and bitterness, they questioned Sabhiya in return.
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya, sau khi học thuộc những câu hỏi ấy từ vị thiên, đã đi đến những vị Sa-môn, Bà-la-môn có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, nổi tiếng, có danh vọng, là các giáo chủ, được nhiều người xem là bậc thiện trí, như là Pūraṇa Kassapa, Makkhaligosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāna, Sañcaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta, và hỏi những câu hỏi đó. Các vị ấy, khi được du sĩ Sabhiya hỏi, đã không thể giải đáp; không thể giải đáp, họ biểu lộ sự tức giận, sân hận và bất mãn. Hơn nữa, họ còn hỏi vặn lại chính du sĩ Sabhiya.
Atha kho sabhiyassa paribbājakassa etadahosi: “ye kho te bhonto samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa, seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo …pe… nigaṇṭho nāṭaputto—te mayā pañhe puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā kopañca dosañca appaccayañca pātukaronti; api ca maññevettha paṭipucchanti. Yannūnāhaṁ hīnāyāvattitvā kāme paribhuñjeyyan”ti.
Atha kho sabhiyassa paribbājakassa etadahosi:
Then Sabhiya thought, “Those famous ascetics and brahmins were stumped by my questions. Displaying annoyance, hate, and bitterness, they questioned me in return on that matter. Why don’t I return to a lesser life so I can enjoy sensual pleasures?”
Then Sabhiya thought,
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya khởi lên ý nghĩ này: “Những vị Sa-môn, Bà-la-môn tôn quý kia, có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, nổi tiếng, có danh vọng, là các giáo chủ, được nhiều người xem là bậc thiện trí, như là Pūraṇa Kassapa… (v.v.)… Nigaṇṭha Nāṭaputta, khi được ta hỏi, đã không thể giải đáp; không thể giải đáp, họ biểu lộ sự tức giận, sân hận và bất mãn; hơn nữa, họ còn hỏi vặn lại chính ta. Hay là ta nên trở lại đời sống thấp kém, hưởng thụ các dục lạc chăng?”
Atha kho sabhiyassa paribbājakassa etadahosi:
Then he thought,
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya khởi lên ý nghĩ này: “Sa-môn Gotama này cũng có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, nổi tiếng, có danh vọng, là giáo chủ, được nhiều người xem là bậc thiện trí. Hay là ta nên đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này chăng?”
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya khởi lên ý nghĩ này: “Ngay cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn tôn quý kia, những vị già cả, trưởng thành, lớn tuổi, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi xế chiều, là bậc trưởng lão, kinh nghiệm, xuất gia đã lâu, có giáo đoàn, có hội chúng, là đạo sư của hội chúng, nổi tiếng, có danh vọng, là các giáo chủ, được nhiều người xem là bậc thiện trí, như là Pūraṇa Kassapa… (v.v.)… Nigaṇṭha Nāṭaputta, ngay cả các vị ấy, khi được ta hỏi, cũng không thể giải đáp; không thể giải đáp, họ biểu lộ sự tức giận, sân hận và bất mãn, hơn nữa, họ còn hỏi vặn lại chính ta; thì làm sao Sa-môn Gotama, khi được ta hỏi những câu này, có thể giải đáp được! Vì rằng Sa-môn Gotama còn trẻ tuổi đời và mới xuất gia.”
Atha kho sabhiyassa paribbājakassa etadahosi: “samaṇo kho daharoti na uññātabbo na paribhotabbo. Daharopi cesa samaṇo gotamo mahiddhiko hoti mahānubhāvo, yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ upasaṅkamitvā ime pañhe puccheyyan”ti.
Then he thought, “An ascetic should not be looked down upon or disparaged because they are young. Though young, the ascetic Gotama has great psychic power and might. Why don’t I ask him these questions?”
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya khởi lên ý nghĩ này: ‘Không nên xem thường, không nên khinh miệt Sa-môn Gotama vì ngài còn trẻ tuổi. Dù Sa-môn Gotama còn trẻ tuổi, ngài có đại thần lực, có đại oai đức. Thật tốt thay nếu ta đến gần Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này.’
Atha kho sabhiyo paribbājako yena rājagahaṁ tena cārikaṁ pakkāmi. Anupubbena cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ veḷuvanaṁ kalandakanivāpo, yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sabhiyo paribbājako bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi—
Then Sabhiya set out for Rājagaha. Traveling stage by stage, he came to Rājagaha, the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. He went up to the Buddha and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side, and addressed the Buddha in verse:
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya lên đường du hành đến thành Rājagaha (Vương Xá). Lần lượt du hành, vị ấy đi đến thành Rājagaha, khu rừng Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc (Kalandakanivāpa), đi đến nơi Thế Tôn đang ngự. Sau khi đến, vị ấy cùng Thế Tôn chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, vị ấy ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Sabhiya bạch với Thế Tôn bằng kệ rằng:
“Kaṅkhī vecikicchī āgamaṁ, (iti sabhiyo) Pañhe pucchituṁ abhikaṅkhamāno; Tesantakaro bhavāhi pañhe me puṭṭho, Anupubbaṁ anudhammaṁ byākarohi me”.
“I’ve come full of doubts and uncertainties,” said Sabhiya, “wishing to ask some questions. Please solve them for me. Answer my questions in turn, <j>in accordance with the truth.”
(Du sĩ Sabhiya bạch rằng:) ‘Con đến đây với lòng hoài nghi, do dự, mong mỏi được hỏi các câu hỏi. Xin ngài hãy là người chấm dứt chúng. Khi được con hỏi, xin ngài hãy tuần tự, đúng theo pháp mà giải đáp cho con.’
“Dūrato āgatosi sabhiya, (iti bhagavā) Pañhe pucchituṁ abhikaṅkhamāno; Tesantakaro bhavāmi pañhe te puṭṭho, Anupubbaṁ anudhammaṁ byākaromi te.
“You have come from afar, Sabhiya,” said the Buddha, “wishing to ask some questions. I shall solve them for you, answering your questions in turn, <j>in accordance with the truth.
(Thế Tôn phán rằng:) ‘Này Sabhiya, ông từ xa đến đây, mong mỏi được hỏi các câu hỏi. Ta sẽ là người chấm dứt chúng. Khi được ông hỏi, Ta sẽ tuần tự, đúng theo pháp mà giải đáp cho ông.’
Puccha maṁ sabhiya pañhaṁ, Yaṁ kiñci manasicchasi; Tassa tasseva pañhassa, Ahaṁ antaṁ karomi te”ti.
Ask me your question, Sabhiya, whatever you want. I’ll solve each and every question you have.”
‘Này Sabhiya, hãy hỏi Ta bất cứ câu hỏi nào ông mong muốn trong tâm. Đối với mỗi câu hỏi ấy, Ta sẽ chấm dứt (hoài nghi) cho ông.’
Atha kho sabhiyassa paribbājakassa etadahosi: “acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho. Yaṁ vatāhaṁ aññesu samaṇabrāhmaṇesu okāsakammamattampi nālatthaṁ taṁ me idaṁ samaṇena gotamena okāsakammaṁ katan”ti. Attamano pamudito udaggo pītisomanassajāto bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi—
Then Sabhiya thought, “Oh lord, how incredible, how amazing! Where those other ascetics and brahmins didn’t even give me a chance, the Buddha has invited me.” Uplifted and elated, full of rapture and happiness, he asked this question.
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya khởi lên ý nghĩ này: ‘Thật kỳ diệu thay, chư vị! Thật hy hữu thay, chư vị! Điều mà ta đã không nhận được dù chỉ là một cơ hội nhỏ từ các vị Sa-môn, Bà-la-môn khác, thì nay Sa-môn Gotama đã ban cho ta cơ hội này.’ Với tâm hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, tràn đầy hỷ lạc, vị ấy đã hỏi Thế Tôn một câu hỏi:
“Kiṁpattinamāhu bhikkhunaṁ, (iti sabhiyo) Sorataṁ kena kathañca dantamāhu; Buddhoti kathaṁ pavuccati, Puṭṭho me bhagavā byākarohi”.
“What must one attain to be called a mendicant?” said Sabhiya, “How is one ‘gentle’, how said to be ‘tamed’? How is one declared to be ‘awakened’? May the Buddha please answer my question.”
(Du sĩ Sabhiya bạch rằng:) ‘Thế nào được gọi là bậc đã thành tựu, là vị Tỳ-khưu? Do đâu được gọi là người nhu hòa, và thế nào là người đã được điều phục? Do đâu được gọi là bậc Giác Ngộ (Buddha)? Kính bạch Thế Tôn, khi được con hỏi, xin Ngài hãy giải đáp.’
“Pajjena katena attanā, (sabhiyāti bhagavā) Parinibbānagato vitiṇṇakaṅkho; Vibhavañca bhavañca vippahāya, Vusitavā khīṇapunabbhavo sa bhikkhu.
“When by the path they have walked themselves,” said the Buddha to Sabhiya, “they reach extinguishment, with doubt overcome; giving up desire for existence or nonexistence, their journey complete, their rebirths ended: <j>that is a mendicant.
(Thế Tôn phán rằng:) ‘Này Sabhiya, người nào tự mình đi trên con đường đã tạo, đã đạt đến Niết-bàn, đã vượt qua hoài nghi; đã từ bỏ cả sự hoại diệt (vibhava) và sự tồn tại (bhava); đã sống đời phạm hạnh, đã đoạn tận tái sanh, người ấy là vị Tỳ-khưu.’
Sabbattha upekkhako satimā, Na so hiṁsati kañci sabbaloke; Tiṇṇo samaṇo anāvilo, Ussadā yassa na santi sorato so.
Equanimous toward everything, mindful, they don’t harm anyone in the world. An ascetic who has crossed over, unclouded, who has no pretensions, is gentle.
‘Vị nào có tâm xả đối với tất cả, có chánh niệm, không làm hại bất cứ ai trong toàn thế gian; đã vượt qua (bộc lưu), là vị Sa-môn không uế nhiễm, người không còn các kiêu mạn (ussadā), vị ấy là người nhu hòa.’
Yassindriyāni bhāvitāni, Ajjhattaṁ bahiddhā ca sabbaloke; Nibbijjha imaṁ parañca lokaṁ, Kālaṁ kaṅkhati bhāvito sa danto.
Their faculties have been developed inside and out in the whole world. Having pierced through this world and the next, tamed, they await their time.
‘Vị nào có các căn đã được tu tập, ở bên trong và bên ngoài, trong toàn thế gian; đã thấu triệt thế giới này và thế giới bên kia, chờ đợi thời khắc (viên tịch), vị đã tu tập ấy là người đã được điều phục.’
Kappāni viceyya kevalāni, Saṁsāraṁ dubhayaṁ cutūpapātaṁ; Vigatarajamanaṅgaṇaṁ visuddhaṁ, Pattaṁ jātikhayaṁ tamāhu buddhan”ti.
They have examined the eons in their entirety, and both sides of transmigration—<j>passing away and rebirth. Rid of dust, unblemished, purified: the one they call ‘awakened’ has attained <j>the end of rebirth.”
‘Vị nào đã thẩm sát tất cả các kiếp (kappa), vòng luân hồi (saṃsāra) cả hai phương diện là tử và sanh; đã đạt đến sự đoạn tận sanh y, không còn bụi bẩn, không còn uế nhiễm, hoàn toàn thanh tịnh, vị ấy được gọi là bậc Giác Ngộ (Buddha).’
Atha kho sabhiyo paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā attamano pamudito udaggo pītisomanassajāto bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi—
And then, having approved and agreed with what the Buddha said, uplifted and elated, full of rapture and happiness, Sabhiya asked another question:
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn, với tâm hoan hỷ, vui mừng, phấn khởi, tràn đầy hỷ lạc, vị ấy đã hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:
“Kiṁpattinamāhu brāhmaṇaṁ, (iti sabhiyo) Samaṇaṁ kena kathañca nhātakoti; Nāgoti kathaṁ pavuccati, Puṭṭho me bhagavā byākarohi”.
“What must one attain to be called ‘brahmin’?” said Sabhiya. “Why is one an ‘ascetic’, and how a ‘bathed initiate’? How is one declared to be a ‘giant’? May the Buddha please answer my question.”
(Du sĩ Sabhiya bạch rằng:) ‘Thế nào được gọi là bậc đã thành tựu, là vị Bà-la-môn? Do đâu được gọi là Sa-môn, và thế nào là người đã tắm gội (nhātaka)? Do đâu được gọi là bậc Long Tượng (nāga)? Kính bạch Thế Tôn, khi được con hỏi, xin Ngài hãy giải đáp.’
“Bāhitvā sabbapāpakāni, (sabhiyāti bhagavā) Vimalo sādhusamāhito ṭhitatto; Saṁsāramaticca kevalī so, Asito tādi pavuccate sa brahmā.
“Having banished all bad things,” said the Buddha to Sabhiya, “immaculate, well-composed, steadfast, consummate, they’ve left transmigration behind: unattached, one such is called ‘brahmin’.
(Thế Tôn phán rằng:) ‘Này Sabhiya, người đã loại trừ tất cả các điều ác, không còn uế nhiễm, khéo định tĩnh, tâm vững vàng; đã vượt qua luân hồi, đã hoàn tất (phận sự); không còn nương tựa, là bậc như vậy (tādi), người ấy được gọi là Bà-la-môn (brahmā).’
Samitāvi pahāya puññapāpaṁ, Virajo ñatvā imaṁ parañca lokaṁ; Jātimaraṇaṁ upātivatto, Samaṇo tādi pavuccate tathattā.
An assuaged one who has given up good and evil, stainless, understanding this world and the next, gone beyond rebirth and death: one such is rightly called ‘ascetic’.
‘Vị nào đã làm lắng dịu (các pháp ác), đã từ bỏ phước và tội, không còn bụi bẩn, đã biết thế giới này và thế giới bên kia; đã vượt qua sanh và tử, là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là Sa-môn.’
Ninhāya sabbapāpakāni, Ajjhattaṁ bahiddhā ca sabbaloke; Devamanussesu kappiyesu, Kappaṁ neti tamāhu nhātakoti.
Having washed off all bad things inside and out in the whole world, among gods and humans bound to creations, the one they call ‘washed’ does not return to creation.
‘Vị nào đã gột rửa tất cả các điều ác, ở bên trong và bên ngoài, trong toàn thế gian; trong các thế giới của trời và người, những nơi thuộc về tư duy (kappiyesu), vị ấy không còn đi đến tư duy (kappaṃ), vị ấy được gọi là người đã tắm gội (nhātaka).’
Āguṁ na karoti kiñci loke, Sabbasaṁyoge visajja bandhanāni; Sabbattha na sajjatī vimutto, Nāgo tādi pavuccate tathattā”ti.
They do nothing monstrous at all in the world, discarding all yokes and bonds, everywhere not stuck, freed: one such is rightly called ‘giant’.”
‘Vị nào không làm bất cứ điều ác nào trong thế gian, đã tháo bỏ tất cả các kiết sử và trói buộc; không còn dính mắc vào bất cứ đâu, đã được giải thoát, là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là bậc Long Tượng (nāga).’
Atha kho sabhiyo paribbājako …pe… bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi—
And then Sabhiya asked another question:
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya... (như trên)... đã hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:
“Kaṁ khettajinaṁ vadanti buddhā, (iti sabhiyo) Kusalaṁ kena kathañca paṇḍitoti; Muni nāma kathaṁ pavuccati, Puṭṭho me bhagavā byākarohi”.
“Who is a ‘field-victor’ according to the Buddhas?” said Sabhiya, “Why is one ‘skillful’, and how ‘an astute scholar’? How is one declared to be a ‘sage’? May the Buddha please answer my question.”
(Du sĩ Sabhiya bạch rằng:) ‘Chư Phật gọi ai là bậc chiến thắng các xứ (khettajina)? Do đâu được gọi là bậc thiện xảo (kusala), và thế nào là bậc trí tuệ (paṇḍita)? Do đâu được gọi là bậc Mâu-ni (muni)? Kính bạch Thế Tôn, khi được con hỏi, xin Ngài hãy giải đáp.’
“Khettāni viceyya kevalāni, (sabhiyāti bhagavā) Dibbaṁ mānusakañca brahmakhettaṁ; Sabbakhettamūlabandhanā pamutto, Khettajino tādi pavuccate tathattā.
“They are victors on the fields of deeds in their entirety,” said the Buddha to Sabhiya, “the fields of gods, humans, and divinities; released from the root bondage to all fields: one such is rightly called ‘field-victor’.
(Thế Tôn phán rằng:) ‘Này Sabhiya, vị nào đã thẩm sát tất cả các xứ (khetta), xứ của chư thiên, của loài người, và xứ của Phạm thiên; đã giải thoát khỏi sự trói buộc từ gốc rễ của tất cả các xứ, là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là bậc chiến thắng các xứ (khettajina).’
Kosāni viceyya kevalāni, Dibbaṁ mānusakañca brahmakosaṁ; Sabbakosamūlabandhanā pamutto, Kusalo tādi pavuccate tathattā.
They have examined the coffers in their entirety, the coffers of gods, humans, and divinities; released from the root bondage to all coffers: one such is rightly called ‘skillful’.
‘Vị nào đã thẩm sát tất cả các kho tàng (kosa), kho tàng của chư thiên, của loài người, và kho tàng của Phạm thiên; đã giải thoát khỏi sự trói buộc từ gốc rễ của tất cả các kho tàng, là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là bậc thiện xảo (kusala).’
Dubhayāni viceyya paṇḍarāni, Ajjhattaṁ bahiddhā ca suddhipañño; Kaṇhaṁ sukkaṁ upātivatto, Paṇḍito tādi pavuccate tathattā.
They have examined whiteness both inside and out; understanding purity, they have left dark and bright behind: one such is rightly called ‘an astute scholar’.
‘Vị nào đã thẩm sát cả hai loại pháp thanh bạch (paṇḍarāni), ở bên trong và bên ngoài, là bậc có trí tuệ thanh tịnh; đã vượt qua cả pháp đen (bất thiện) và pháp trắng (thiện), là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là bậc trí tuệ (paṇḍita).’
Asatañca satañca ñatvā dhammaṁ, Ajjhattaṁ bahiddhā ca sabbaloke; Devamanussehi pūjanīyo, Saṅgaṁ jālamaticca so munī”ti.
Understanding the nature of the bad and the good inside and out in the whole world; one worthy of honor by gods and humans, who has escaped from the net and the chain: <j>that is a sage.”
‘Vị nào đã biết pháp của người bất thiện và của người thiện, ở bên trong và bên ngoài, trong toàn thế gian; đáng được chư thiên và loài người cúng dường; đã vượt qua sự dính mắc và lưới (ái), vị ấy là bậc Mâu-ni (muni).’
Atha kho sabhiyo paribbājako …pe… bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi—
And then Sabhiya asked another question:
Bấy giờ, du sĩ Sabhiya... (như trên)... đã hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:
“Kiṁpattinamāhu vedaguṁ, (iti sabhiyo) Anuviditaṁ kena kathañca viriyavāti; Ājāniyo kinti nāma hoti, Puṭṭho me bhagavā byākarohi”.
“What must one attain <j>to be called ‘knowledge master’?” said Sabhiya, “Why is one ‘studied’, and how is one ‘heroic’? How to gain the name ‘thoroughbred’? May the Buddha please answer my question.”
(Du sĩ Sabhiya bạch rằng:) ‘Thế nào được gọi là bậc đã thành tựu, là người thông đạt Vệ-đà (vedagū)? Do đâu được gọi là người đã liễu tri (anuvidita), và thế nào là người có tinh tấn (vīriyavā)? Do đâu được gọi là bậc thuần chủng (ājāniya)? Kính bạch Thế Tôn, khi được con hỏi, xin Ngài hãy giải đáp.’
“Vedāni viceyya kevalāni, (sabhiyāti bhagavā) Samaṇānaṁ yānidhatthi brāhmaṇānaṁ; Sabbavedanāsu vītarāgo, Sabbaṁ vedamaticca vedagū so.
“They have examined knowledges in their entirety,” said the Buddha to Sabhiya, “those that are current among ascetics and brahmins; rid of greed for all feelings, having left all knowledges behind: <j>that is a knowledge master.
(Thế Tôn phán rằng:) ‘Này Sabhiya, vị nào đã thẩm sát tất cả các Vệ-đà (veda) của các Sa-môn và Bà-la-môn có ở đời này; đã ly tham đối với tất cả các cảm thọ (vedanā); đã vượt qua tất cả Vệ-đà, vị ấy là người thông đạt Vệ-đà (vedagū).’
Anuvicca papañcanāmarūpaṁ, Ajjhattaṁ bahiddhā ca rogamūlaṁ; Sabbarogamūlabandhanā pamutto, Anuvidito tādi pavuccate tathattā.
Having studied proliferation and name & form inside and out—the root of disease; released from the root bondage to all disease: one such is rightly called ‘studied’.
‘Vị nào đã liễu tri các pháp hý luận (papañca), danh và sắc, ở bên trong và bên ngoài, là gốc rễ của bệnh tật; đã giải thoát khỏi sự trói buộc từ gốc rễ của tất cả bệnh tật, là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là người đã liễu tri (anuvidita).’
Virato idha sabbapāpakehi, Nirayadukkhaṁ aticca viriyavāso; So vīriyavā padhānavā, Dhīro tādi pavuccate tathattā.
Refraining from all evil here, heroic, he escapes from the suffering of hell; he is heroic and energetic: one such is rightly called ‘hero’.
‘Vị nào ở đây đã từ bỏ tất cả các điều ác, đã vượt qua khổ đau của địa ngục, là người có tinh tấn; vị ấy có tinh tấn, có sự nỗ lực (padhānavā), là bậc hiền trí (dhīro), là bậc như vậy (tādi) vì bản chất là như vậy, vị ấy được gọi là người có tinh tấn.’
Yassassu lunāni bandhanāni, Ajjhattaṁ bahiddhā ca saṅgamūlaṁ; Sabbasaṅgamūlabandhanā pamutto, Ājāniyo tādi pavuccate tathattā”ti.
Whoever’s bonds are cut, the root of clinging inside and out; released from the root bondage to all clinging: one such is rightly called ‘thoroughbred’.”
Vị nào đã cắt đứt các trói buộc, cả bên trong lẫn bên ngoài, cùng với gốc rễ của sự dính mắc; vị ấy đã được giải thoát khỏi mọi trói buộc từ gốc rễ của sự dính mắc, được gọi là bậc thuần chủng, bậc như thị, vì bản chất là như vậy.
Atha kho sabhiyo paribbājako …pe… bhagavantaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi—
And then Sabhiya asked another question:
Khi ấy, du sĩ Sabhiya... bạch hỏi Thế Tôn câu hỏi tiếp theo:
“Kiṁpattinamāhu sottiyaṁ, (iti sabhiyo) Ariyaṁ kena kathañca caraṇavāti; Paribbājako kinti nāma hoti, Puṭṭho me bhagavā byākarohi”.
“What must one attain to be called ‘scholar’?” said Sabhiya, “Why is one ‘noble’, and how is one ‘well conducted’? How to gain the name ‘wanderer’? May the Buddha please answer my question.”
(Sabhiya hỏi rằng:) 'Thế nào được gọi là bậc thông thái? Do đâu được gọi là bậc Thánh? Và thế nào là người có đầy đủ hạnh kiểm? Thế nào được gọi là một du sĩ? Con đã hỏi, xin Thế Tôn hãy giải đáp cho con.'
“Sutvā sabbadhammaṁ abhiññāya loke, (sabhiyāti bhagavā) Sāvajjānavajjaṁ yadatthi kiñci; Abhibhuṁ akathaṅkathiṁ vimuttaṁ, Anighaṁ sabbadhimāhu sottiyoti.
“One who has learned every teaching,” said the Buddha to Sabhiya, “and has known for themselves what in the world <j>is blameworthy and blameless; a vanquisher, decided, liberated, untroubled everywhere: they call them ‘scholar’.
(Thế Tôn đáp:) 'Này Sabhiya, người nào trong đời, sau khi đã nghe và thắng tri tất cả các pháp, bất cứ điều gì có lỗi hay không có lỗi; người ấy là bậc chinh phục, không còn nghi hoặc, đã được giải thoát, không còn phiền não trong mọi sự, vị ấy được gọi là bậc thông thái.'
Chetvā āsavāni ālayāni, Vidvā so na upeti gabbhaseyyaṁ; Saññaṁ tividhaṁ panujja paṅkaṁ, Kappaṁ neti tamāhu ariyoti.
Having cut off defilements and clingings, being wise, they enter no womb. They’ve cast aside the bog of the three perceptions, the one they call ‘noble’ does not return to creation.
Vị nào đã cắt đứt các lậu hoặc và các ái luyến, bậc trí ấy không còn tái sanh vào thai mẹ. Sau khi đã xua tan ba loại tưởng và vũng lầy (dục lạc), vị ấy không còn đi đến một kiếp nào nữa, vị ấy được gọi là bậc Thánh.
Yo idha caraṇesu pattipatto, Kusalo sabbadā ājānāti dhammaṁ; Sabbattha na sajjati vimuttacitto, Paṭighā yassa na santi caraṇavā so.
One here who is accomplished <j>and skillful in all forms of good conduct; always understanding the teaching, everywhere not stuck, freed in mind, who has no aversion: they are ‘well-conducted’.
Vị nào ở đây đã đạt đến sự thành tựu trong các hạnh kiểm, là bậc thiện xảo, luôn luôn thấu hiểu Chánh Pháp; không dính mắc vào bất cứ đâu, với tâm đã giải thoát, vị nào không còn các chướng ngại, vị ấy là người có đầy đủ hạnh kiểm.
Dukkhavepakkaṁ yadatthi kammaṁ, Uddhamadho tiriyaṁ vāpi majjhe; Paribbājayitvā pariññacārī, Māyaṁ mānamathopi lobhakodhaṁ; Pariyantamakāsi nāmarūpaṁ, Taṁ paribbājakamāhu pattipattan”ti.
They wander full of wisdom, having banished any deed that results in suffering, deceit and conceit, as well as greed and anger, above, below, all round, between. They have made a limit on name and form; the one they call a ‘wanderer’ <j>has reached their destination.”
Bất cứ nghiệp nào có quả báo là khổ đau, dù ở trên, ở dưới, hay ở ngang, ở giữa; vị nào đã từ bỏ chúng, sống với sự liễu tri, cùng với sự xảo trá, ngã mạn, cũng như tham lam và sân hận; vị nào đã chấm dứt danh và sắc, vị ấy được gọi là du sĩ, người đã đạt đến mục đích.
Atha kho sabhiyo paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā attamano pamudito udaggo pītisomanassajāto uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
And then, having approved and agreed with what the Buddha said, uplifted and elated, full of rapture and happiness, Sabhiya rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and extolled the Buddha in his presence with fitting verses:
Khi ấy, du sĩ Sabhiya, sau khi hoan hỷ và tùy hỷ lời dạy của Thế Tôn, với tâm hài lòng, vui mừng, phấn khởi, tràn đầy hỷ lạc, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt thượng y qua một bên vai, chắp tay hướng về phía Thế Tôn, và tán thán Thế Tôn ngay trước mặt bằng những câu kệ thích hợp:
“Yāni ca tīṇi yāni ca saṭṭhi, Samaṇappavādasitāni bhūripañña; Saññakkharasaññanissitāni, Osaraṇāni vineyya oghatamagā.
“O one of vast wisdom, <j>there are three and sixty opinions based on the doctrines of ascetics: they are expressions of perception, <j>based on perception. Having dispelled them all, <j>you passed over the dark flood.
Bậc Trí Tuệ Rộng Lớn, Ngài đã loại trừ sáu mươi ba tà kiến, là những nơi nương tựa, dựa vào các học thuyết của các sa-môn ngoại đạo, dựa vào tưởng về danh tự và tưởng về khái niệm. Ngài đã vượt qua bộc lưu.
Antagūsi pāragū dukkhassa, Arahāsi sammāsambuddho khīṇāsavaṁ taṁ maññe; Jutimā mutimā pahūtapañño, Dukkhassantakara atāresi maṁ.
You have gone to the end, gone beyond suffering, you are perfected, a fully awakened Buddha; <j>I think you have ended defilements. Brilliant, thoughtful, abounding in wisdom, ender of suffering—you brought me across!
Ngài là bậc đã đến điểm tận cùng, đã đến bờ kia của khổ đau. Ngài là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác; con xem Ngài là bậc đã tận trừ các lậu hoặc. Ngài là bậc quang minh, bậc trí tuệ, bậc có tuệ giác bao la. Bậc chấm dứt khổ đau, Ngài đã giúp con vượt qua.
Yaṁ me kaṅkhitamaññāsi, Vicikicchā maṁ tārayi namo te; Muni monapathesu pattipatta, Akhila ādiccabandhu soratosi.
When you understood my uncertainty, you brought me beyond doubt—homage to you! A sage, accomplished in the ways of sagacity, you are gentle, not hardhearted, <j>O Kinsman of the Sun.
Ngài đã biết được sự nghi ngờ của con, đã giúp con vượt qua hoài nghi. Xin đảnh lễ Ngài! Hỡi bậc Mâu-ni, người đã đạt đến mục đích trên các con đường của bậc Mâu-ni, Ngài không còn cằn cỗi, là quyến thuộc của mặt trời, Ngài thật hiền hòa.
Yā me kaṅkhā pure āsi, Taṁ me byākāsi cakkhumā; Addhā munīsi sambuddho, Natthi nīvaraṇā tava.
Any doubts that I once had, you have answered for me, O Clear-eyed One. Clearly you are a sage, an Awakened One, there are no hindrances in you.
Sự nghi ngờ mà con đã có trước đây, Ngài, bậc có Mắt, đã giải thích cho con. Quả thật Ngài là bậc Mâu-ni, bậc Chánh Đẳng Giác; nơi Ngài không còn các triền cái.
Upāyāsā ca te sabbe, Viddhastā vinaḷīkatā; Sītibhūto damappatto, Dhitimā saccanikkamo.
All your distress is blown away and mown down. Cooled, tamed, steadfast: truth is your strength.
Và tất cả những phiền não của Ngài đã bị phá tan, đã được nhổ sạch. Ngài đã trở nên thanh lương, đã đạt đến sự tự chủ, là bậc kiên định, có sự nỗ lực chân chánh.
Tassa te nāganāgassa, Mahāvīrassa bhāsato; Sabbe devānumodanti, Ubho nāradapabbatā.
O giant among giants, O great hero, when you are speaking all the gods rejoice, including both Nārada and Pabbata.
Khi Ngài, bậc Long Tượng giữa các Long Tượng, bậc Đại Anh Hùng, đang thuyết giảng, tất cả chư thiên đều tùy hỷ, cả hai vị Nārada và Pabbata.
Namo te purisājañña, Namo te purisuttama; Sadevakasmiṁ lokasmiṁ, Natthi te paṭipuggalo.
Homage to you, O thoroughbred! Homage to you, supreme among men! In the world with its gods, you have no rival.
Xin đảnh lễ Ngài, bậc Nhân Hùng! Xin đảnh lễ Ngài, bậc Tối Thắng Nhân! Trong thế giới cùng với chư thiên, không có ai sánh bằng Ngài.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā, Tuvaṁ mārābhibhū muni; Tuvaṁ anusaye chetvā, Tiṇṇo tāresimaṁ pajaṁ.
You are the Buddha, you are the Teacher, you are the sage who has overcome Māra; you have cut off the underlying tendencies, you’ve crossed over, and you bring humanity across.
Ngài là bậc Giác Ngộ, Ngài là bậc Đạo Sư, Ngài là bậc Mâu-ni đã chiến thắng Ma vương. Ngài đã cắt đứt các tùy miên, đã vượt qua và giúp chúng sanh này vượt qua.
Upadhī te samatikkantā, Āsavā te padālitā; Sīhosi anupādāno, Pahīnabhayabheravo.
You have transcended attachments, your defilements are shattered; you are a lion free of grasping, with fear and dread given up.
Các sanh y của Ngài đã được vượt qua, các lậu hoặc của Ngài đã bị phá vỡ. Ngài là con sư tử, không còn chấp thủ, đã từ bỏ mọi sợ hãi và kinh hoàng.
Puṇḍarīkaṁ yathā vaggu, Toye na upalimpati; Evaṁ puññe ca pāpe ca, Ubhaye tvaṁ na limpasi; Pāde vīra pasārehi, Sabhiyo vandati satthuno”ti.
Like a graceful lotus to which water does not stick, so both good and evil do not stick to you. Stretch out your feet, great hero: Sabhiya bows to the Teacher.”
Như hoa sen trắng xinh đẹp không bị nước làm ô nhiễm; cũng vậy, Ngài không bị ô nhiễm bởi cả phước và tội. Hỡi bậc Anh Hùng, xin hãy duỗi chân ra, Sabhiya xin đảnh lễ bậc Đạo Sư.
Atha kho sabhiyo paribbājako bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante …pe… esāhaṁ bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca; labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Then the wanderer Sabhiya bowed with his head to the Buddha’s feet and said, “Excellent, sir! Excellent! … I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
Khi ấy, du sĩ Sabhiya cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!... Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng đoàn Tỳ-khưu. Bạch Thế Tôn, mong rằng con được xuất gia dưới sự hiện diện của Thế Tôn, mong rằng con được thọ cụ túc giới.'
“Yo kho, sabhiya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati; catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sabhiya, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I recognize individual differences in this matter.”
Này Sabhiya, người nào trước đây là ngoại đạo, nếu muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, người ấy phải sống biệt trú trong bốn tháng. Sau bốn tháng, nếu các Tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ-khưu. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Ta biết có sự khác biệt giữa các cá nhân.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ, ākaṅkhantā upasampadaṁ cattāro māse parivasanti, catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi; catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti. Alattha kho sabhiyo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ alattha upasampadaṁ …pe… aññataro kho panāyasmā sabhiyo arahataṁ ahosīti.
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.” And the wanderer Sabhiya received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. And Venerable Sabhiya became one of the perfected.
Bạch Thế Tôn, nếu những người trước đây là ngoại đạo, muốn xuất gia, muốn thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, phải sống biệt trú trong bốn tháng, và sau bốn tháng, nếu các Tỳ-khưu hài lòng, họ sẽ cho xuất gia, cho thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ-khưu, thì con sẽ sống biệt trú trong bốn năm. Sau bốn năm, nếu các Tỳ-khưu hài lòng, xin hãy cho con xuất gia, cho con thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ-khưu.' Du sĩ Sabhiya đã được xuất gia dưới sự hiện diện của Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới... và Tôn giả Sabhiya đã trở thành một trong các vị A-la-hán.
Sabhiyasuttaṁ chaṭṭhaṁ.
Kinh Sabhiya, phẩm thứ sáu, chấm dứt.