- Sutta Nipāta 2.7
Brāhmaṇadhammikasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Brāhmaṇadhammikasutta
Các vị ẩn sĩ thời quá khứ có bản thân đã được chế ngự, có sự khắc khổ, sau khi từ bỏ năm loại dục, các vị đã thực hành điều lợi ích cho bản thân.
Không gia súc, không vàng, không tài sản đối với các vị Bà-la-môn. Có việc học là tài sản và lúa gạo, các vị đã bảo vệ kho báu cao thượng.
Vật nào đã được làm ra dành cho các vị ấy, vật thực được đặt gần ở cánh cửa (của ngôi nhà), vật đã được làm ra bởi niềm tin, (các thí chủ) nghĩ rằng vật ấy sẽ được bố thí đến những vị đang tầm cầu.
Với các vải vóc nhuộm nhiều màu, với các giường nằm, và với các chỗ trú ngụ, các xứ sở, các vương quốc thịnh vượng đã tôn vinh các vị Bà-la-môn ấy.
Các vị Bà-la-môn đã không bị giết hại, không bị áp bức, được pháp luật bảo vệ, hoàn toàn không có bất cứ người nào đã ngăn cản các vị ấy ở các ngưỡng cửa của các gia đình.
Các vị ấy đã thực hành Phạm hạnh từ thời niên thiếu cho đến bốn mươi tám tuổi. Các vị Bà-la-môn trước đây đã tầm cầu kiến thức và đức hạnh.
Các vị Bà-la-môn đã không đi đến với (giai cấp) khác, các vị ấy cũng đã không mua người vợ. Chi do sự yêu thương lẫn nhau, họ đã đi đến với nhau và cùng vui thích sự chung sống với nhau.
Trừ ra thời điểm ấy, lúc dứt kinh kỳ của người vợ, khoảng giữa (chu kỳ ấy), các vị Bà-la-môn không bao giờ đi đến việc đôi lứa.
Các vị đã ca ngợi Phạm hạnh, giới hạnh, sự ngay thẳng, sự mềm mỏng, sự khắc khổ, sự nhã nhặn, sự không hãm hại, và luôn cả sự kham nhẫn.
Trong số các vị ấy, vị nào là tối thắng, cao cả, có sự nỗ lực vững chải, chính vị ấy đã không còn đi đến việc đôi lứa, dầu là trong giấc mơ.
Trong khi học tập theo sự thực hành của vị ấy, nhiều vị ở đây, có bản tánh hiểu biết, đã ca ngợi Phạm hạnh, giới hạnh, và luôn cả sự kham nhẫn.
Sau khi yêu cầu gạo, giường nằm, vải vóc, bơ lỏng và dầu ăn, sau khi đã thu thập đúng pháp, từ đó các vị đã chuẩn bị lễ hiến tế. Khi lễ hiến tế được sẵn sàng, các vị ấy đã không bao giờ giết hại các con bò.
298. Giống như mẹ, cha, anh (em) trai, hoặc luôn cả những người bà con khác, những con bò là bạn bè tốt nhất của chúng ta, (bởi vì) từ nơi chúng các thuốc chữa bệnh được sản xuất ra.
Tương tự như thế, chúng còn cho thức ăn, cho sức mạnh, cho dung sắc, và cho sự an lạc. Sau khi biết được lợi ích này, các vị Bà-la-môn đã không bao giờ giết hại những con bò.
Có vóc dáng thanh tú, có thân hình cao lớn, có dung sắc, có danh tiếng, các vị Bà-la-môn năng nổ ở phận sự và không phải là phận sự đối với các truyền thống của mình. Chừng nào các truyền thống ấy còn vận hành ở thế gian, thì dòng dõi (con người) này còn đạt được sự an lạc.
Trong số các vị Bà-la-môn đã có sự đổi thay. (Trước đây) các vị đã nhìn thấy nhỏ nhoi là nhỏ nhoi, ví như sự huy hoàng của nhà vua, các người phụ nữ đã được trang điểm, ...
... các cỗ xe đã được thắng ngựa thuần chủng, đã khéo được kiến tạo, các tấm thảm may nhiều màu sắc, các chỗ trú ngụ và các ngôi nhà đã được phân chia, đã được đo đạc theo từng phần.
(Giờ đây) các vị Bà-la-môn đã tham lam của cải sung túc của loài người, được vây quanh bởi những bầy gia súc, được kết hợp với những nhóm phụ nữ sang trọng.
Các vị ấy, sau khi đã soạn thảo các chú thuật về việc ấy, rồi đã đi đến gặp vua Okkāka (nói rằng): ‘Ngài có nhiều tài sản và lúa gạo. Ngài hãy cúng tế, sẽ có nhiều của cải cho ngài. Ngài hãy cúng tế, sẽ có nhiều tài sản cho ngài.’
Và sau đó, đức vua, vị chúa tể của các xa phu, được các vị Bà-la-môn thuyết phục, đã cúng tế những sự hiến cúng này: lễ tế ngựa, lễ tế người, lễ ném cái nêm, lễ uống rượu thánh, lễ hiệp tế, rồi đã bố thí đến các vị Bà-la-môn tài sản (gồm có):
Đàn bò, giường nằm, vải vóc, và những người phụ nữ đã được trang điểm, các cỗ xe đã được thắng ngựa thuần chủng, đã khéo được kiến tạo, các tấm thảm may nhiều màu sắc.
Sau khi chứa đầy các chỗ trú ngụ xinh xắn đã khéo được phân chia thành từng phần với các loại mễ cốc khác nhau, đức vua đã bố thí tài sản đến các vị Bà-la-môn.
Và các vị ấy, sau khi nhận được tài sản tại nơi ấy, đã vui thích việc tích trữ (của cải). Đối với các vị bị tác động bởi ước muốn, tham ái đã tăng trưởng nhiều hơn đến các vị ấy. Các vị ấy, sau khi soạn thảo các chú thuật về việc ấy, đã đi đến gặp vua Okkāka lần nữa (nói rằng):
‘Nước và đất, vàng, tài sản và mễ cốc (quan trọng) đối với con người như thế nào, thì bầy bò là như vậy, bởi vì nó là vật cần thiết cho các sinh mạng. Ngài hãy cúng tế, sẽ có nhiều của cải cho ngài. Ngài hãy cúng tế, sẽ có nhiều tài sản cho ngài.’
Và sau đó, đức vua, vị chúa tể của các xa phu, được các vị Bà-la-môn thuyết phục, đã giết hại hàng trăm ngàn con bò trong lễ cúng tế.
Không bằng gót chân, không bằng cái sừng, các con bò đã không bao giờ hãm hại (ai) bằng bất cứ vật gì. Chúng hiền hòa giống như loài cừu, cho vắt sữa từng chậu. Sau khi nắm lấy chúng ở cái sừng, đức vua đã giết chúng bằng dao.
Và do đó, chư Thiên, các Phạm Thiên, Thiên Chủ Inda, các A-tu-la, và các quỷ thần đã thét lên: ‘Phi pháp’ về việc cắm xuống con dao ở các con bò.
Trước đây đã có ba căn bệnh: ước muốn, thiếu ăn, già nua. Do việc giết hại các con thú, các căn bệnh đã lên đến chín mươi tám loại.
Trong số các hình phạt, việc phi pháp này đã là cổ xưa được lưu truyền lại. Các loài vô hại bị giết chết, các vị thực hiện lễ tế hủy hoại truyền thống.
Như vậy, truyền thống thấp kém cổ xưa này bị những bậc có sự hiểu biết quở trách. Nơi nào nhìn thấy việc làm như thế người ta đã quở trách vị thực hiện lễ tế.
Khi truyền thống bị đảo lộn như vậy, các giai cấp Thủ-đà-la và Vệ-xá bị phân chia, các Sát-đế-lỵ bị phân chia riêng rẽ, vợ đã xem thường chồng.
Các Sát-đế-lỵ, các thân quyến của Phạm Thiên (Bà-la-môn), và những người khác được bảo vệ bởi dòng họ (Thủ-đà-la và Vệ-xá), đã bỏ bê việc nói đến dòng dõi và đã đi theo sự thống trị của các dục.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Brāhmaṇadhammika
Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika. Rồi nhiều vị Bà-la-môn đại phú ở xứ Kosala, đã già, cao niên, trưởng lão, đã đi hết cuộc đời, đã đến tuổi già, đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, họ cùng với Thế Tôn nói lên lời chào hỏi thăm. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân hữu, họ ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các vị Bà-la-môn đại phú ấy bạch với Thế Tôn: “Thưa Tôn giả Gotama, ngày nay có còn thấy các vị Bà-la-môn nào sống theo pháp của các Bà-la-môn thời xưa không?” “Này các Bà-la-môn, ngày nay không còn thấy các vị Bà-la-môn nào sống theo pháp của các Bà-la-môn thời xưa.” “Lành thay, nếu Tôn giả Gotama không phiền, xin Tôn giả hãy nói cho chúng tôi nghe về pháp của các Bà-la-môn thời xưa.” “Vậy thì, này các Bà-la-môn, hãy lắng nghe, hãy khéo tác ý, Ta sẽ nói.” “Vâng, thưa Tôn giả,” các vị Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói điều này:
“Isayo pubbakā āsuṁ, saññatattā tapassino; Pañca kāmaguṇe hitvā, attadatthamacārisuṁ.
“The ancient seers used to be restrained and austere. Having given up the five sensual stimuli, they lived for their own true good.
“Các vị ẩn sĩ thời xưa, có tự chủ, sống khổ hạnh; đã từ bỏ năm dục công đức, thực hành vì lợi ích của chính mình.
Na pasū brāhmaṇānāsuṁ, na hiraññaṁ na dhāniyaṁ; Sajjhāyadhanadhaññāsuṁ, brahmaṁ nidhimapālayuṁ.
Brahmins used to own no cattle, nor gold coin or grain. Chanting was their money and grain, which they guarded as a gift from god.
“Các Bà-la-môn không có gia súc, không vàng bạc, không lúa thóc; việc học tụng là tài sản, là lúa thóc của họ, họ bảo vệ kho tàng phạm hạnh.
Yaṁ nesaṁ pakataṁ āsi, dvārabhattaṁ upaṭṭhitaṁ; Saddhāpakatamesānaṁ, dātave tadamaññisuṁ.
Food was prepared for them and left beside their doors. People believed that food prepared in faith should be given to them.
“Bữa ăn được chuẩn bị cho họ, được dâng cúng tại cửa; họ nghĩ rằng vật thực được chuẩn bị với lòng tín thành này nên được trao cho những người tìm kiếm.
Nānārattehi vatthehi, sayanehāvasathehi ca; Phītā janapadā raṭṭhā, te namassiṁsu brāhmaṇe.
With colorful clothes, lodgings and houses, prosperous nations and countries honored those brahmins.
“Các xứ sở và quốc độ thịnh vượng, với y phục, giường nằm, và trú xứ nhiều màu sắc, đã đảnh lễ các vị Bà-la-môn ấy.
Avajjhā brāhmaṇā āsuṁ, ajeyyā dhammarakkhitā; Na ne koci nivāresi, kuladvāresu sabbaso.
Brahmins used to be inviolable and invincible, protected by principle. No one ever turned them away from the doors of families.
“Các Bà-la-môn không thể bị giết, không thể bị chinh phục, được Pháp bảo vệ; không ai ngăn cản họ ở bất cứ cửa nhà của gia tộc nào.
Aṭṭhacattālīsaṁ vassāni, (komāra) Brahmacariyaṁ cariṁsu te; Vijjācaraṇapariyeṭṭhiṁ, Acaruṁ brāhmaṇā pure.
For forty-eight years they led the spiritual life. The brahmins of old pursued their quest for knowledge and conduct.
“Họ đã thực hành đời sống phạm hạnh của thanh niên trong bốn mươi tám năm; các Bà-la-môn thời xưa đã thực hành việc tìm cầu minh và hạnh.
Na brāhmaṇā aññamagamuṁ, napi bhariyaṁ kiṇiṁsu te; Sampiyeneva saṁvāsaṁ, saṅgantvā samarocayuṁ.
Brahmins never transgressed with another, nor did they purchase a wife. They lived together in love, joining together by mutual consent.
“Các Bà-la-môn không đi đến người khác, họ cũng không mua vợ; họ sống chung với nhau bằng tình thương, cùng nhau đi đến sự hòa hợp.
Aññatra tamhā samayā, utuveramaṇiṁ pati; Antarā methunaṁ dhammaṁ, nāssu gacchanti brāhmaṇā.
Brahmins never approached their wives for sex during the time outside the fertile phase of the menstrual cycle after menstruation.
“Ngoại trừ thời điểm đó, khi người vợ hết kỳ kinh nguyệt, các Bà-la-môn không thực hành việc giao hợp ở giữa các kỳ.
Brahmacariyañca sīlañca, ajjavaṁ maddavaṁ tapaṁ; Soraccaṁ avihiṁsañca, khantiñcāpi avaṇṇayuṁ.
They praised chastity and morality, integrity, tenderness, and fervor, gentleness and harmlessness, and also patience.
“Họ đã tán thán đời sống phạm hạnh, giới hạnh, sự ngay thẳng, nhu hòa, khổ hạnh, sự dễ dạy, bất hại, và cả nhẫn nại.
Yo nesaṁ paramo āsi, Brahmā daḷhaparakkamo; Sa vāpi methunaṁ dhammaṁ, Supinantepi nāgamā.
He who was supreme among them, godlike, staunchly vigorous, did not engage in sex even in a dream.
“Vị nào trong số họ là tối thượng, như Phạm thiên, có tinh tấn vững chắc, vị ấy cũng không thực hành việc giao hợp, ngay cả trong giấc mơ.
Tassa vattamanusikkhantā, Idheke viññujātikā; Brahmacariyañca sīlañca, Khantiñcāpi avaṇṇayuṁ.
Training in line with their duties, many smart people here praised chastity and morality, and also patience.
“Học theo hạnh của vị ấy, một số người có trí ở đời này đã tán thán đời sống phạm hạnh, giới hạnh, và cả nhẫn nại.
Taṇḍulaṁ sayanaṁ vatthaṁ, Sappitelañca yāciya; Dhammena samodhānetvā, Tato yaññamakappayuṁ.
They begged for rice, bedding, clothes, ghee, and oil. Having collected them legitimately, they arranged a sacrifice.
“Sau khi xin gạo, giường nằm, y phục, bơ và dầu, và thu thập một cách đúng pháp, rồi họ thực hiện lễ tế tự.
Upaṭṭhitasmiṁ yaññasmiṁ, Nāssu gāvo haniṁsu te; Yathā mātā pitā bhātā, Aññe vāpi ca ñātakā; Gāvo no paramā mittā, Yāsu jāyanti osadhā.
But they slew no cows while serving at the sacrifice. Like a mother, father, or brother, or some other relative, cows are our best friends, the fonts of medicine.
“Khi lễ tế tự được chuẩn bị, họ không giết bò. Giống như mẹ, cha, anh em, hay các quyến thuộc khác, bò là bạn tối thượng của chúng ta, từ chúng mà các dược phẩm được sinh ra.
Annadā baladā cetā, Vaṇṇadā sukhadā tathā; Etamatthavasaṁ ñatvā, Nāssu gāvo haniṁsu te.
They give food and strength, and beauty and happiness. Knowing these benefits, they slew no cows.
“Chúng cho thức ăn, cho sức mạnh, cho sắc đẹp, và cũng cho hạnh phúc. Biết được lợi ích này, họ không giết bò.
Sukhumālā mahākāyā, Vaṇṇavanto yasassino; Brāhmaṇā sehi dhammehi, Kiccākiccesu ussukā; Yāva loke avattiṁsu, Sukhamedhitthayaṁ pajā.
The brahmins were delicate and tall, beautiful and glorious. They were keen on all the duties according to their teachings. So long as they continued in the world, people flourished happily.
“Các Bà-la-môn có thân thể mềm mại, to lớn, có sắc đẹp, có danh tiếng; với pháp của mình, họ nhiệt tâm trong các việc nên làm và không nên làm. Chừng nào họ còn sống trên đời, chúng sanh này được hưởng hạnh phúc.
Tesaṁ āsi vipallāso, Disvāna aṇuto aṇuṁ; Rājino ca viyākāraṁ, Nāriyo samalaṅkatā.
But perversion crept into them little by little when they saw the transformation of the king and the ladies in all their finery.
“Họ đã có sự sai lạc, khi thấy từng chút một sự giàu sang của nhà vua, và những người phụ nữ được trang điểm lộng lẫy.
Rathe cājaññasaṁyutte, Sukate cittasibbane; Nivesane nivese ca, Vibhatte bhāgaso mite.
Their chariots were harnessed with thoroughbreds, well-made with bright canopies, and their homes and houses were neatly divided section by section.
“Và những cỗ xe được thắng ngựa thuần chủng, được làm khéo léo, được trang trí rực rỡ; và những nơi ở, những ngôi nhà, được phân chia và đo lường theo từng phần.
Gomaṇḍalaparibyūḷhaṁ, Nārīvaragaṇāyutaṁ; Uḷāraṁ mānusaṁ bhogaṁ, Abhijjhāyiṁsu brāhmaṇā.
They were lavished with herds of cattle, and furnished with bevies of lovely ladies. This extravagant human wealth was coveted by the brahmins.
“Đầy dẫy những đàn bò, cùng với đoàn tùy tùng gồm những phụ nữ xinh đẹp, các Bà-la-môn đã thèm muốn sự giàu sang to lớn của con người.
Te tattha mante ganthetvā, Okkākaṁ tadupāgamuṁ; Pahūtadhanadhaññosi, Yajassu bahu te vittaṁ; Yajassu bahu te dhanaṁ.
They compiled hymns to that end, approached King Okkāka and said, ‘You have plenty of money and grain. Sacrifice! For you have much treasure. Sacrifice! For you have much money.’
“Họ ở đó, soạn ra các câu thần chú, rồi đến gặp vua Okkāka: ‘Ngài có nhiều của cải và lúa thóc, hãy tế tự đi, ngài có nhiều tài sản; hãy tế tự đi, ngài có nhiều của cải.’
Tato ca rājā saññatto, Brāhmaṇehi rathesabho; Assamedhaṁ purisamedhaṁ, Sammāpāsaṁ vājapeyyaṁ niraggaḷaṁ; Ete yāge yajitvāna, Brāhmaṇānamadā dhanaṁ.
Persuaded by the brahmins, the king, chief of charioteers, performed horse sacrifice, human sacrifice, the sacrifices of the ‘casting of the yoke-pin’, <j>the ‘royal soma drinking’, and the ‘unimpeded’. When he had carried out these sacrifices, he gave riches to the brahmins.
“Rồi nhà vua, người đứng đầu các chiến sĩ, được các Bà-la-môn thuyết phục, đã thực hiện các lễ tế Assamedha, Purisamedha, Sammāpāsa, Vājapeyya, và Niraggaḷa; sau khi thực hiện các lễ tế này, đã ban của cải cho các Bà-la-môn.
Gāvo sayanañca vatthañca, Nāriyo samalaṅkatā; Rathe cājaññasaṁyutte, Sukate cittasibbane.
There were cattle, bedding, and clothes, and ladies in all their finery; chariots harnessed with thoroughbreds, well-made with bright canopies;
“(Nhà vua đã ban cho họ) bò, giường nằm và y phục, những người phụ nữ được trang điểm lộng lẫy, và những cỗ xe được thắng ngựa thuần chủng, được làm khéo léo, được trang trí rực rỡ.
Nivesanāni rammāni, Suvibhattāni bhāgaso; Nānādhaññassa pūretvā, Brāhmaṇānamadā dhanaṁ.
and lovely homes, nicely divided section by section. Having furnished them with different grains, he gave riches to the brahmins.
“Những ngôi nhà xinh đẹp, được phân chia rõ ràng theo từng phần, lấp đầy bằng nhiều loại lúa thóc, nhà vua đã ban của cải ấy cho các Bà-la-môn.
Te ca tattha dhanaṁ laddhā, Sannidhiṁ samarocayuṁ; Tesaṁ icchāvatiṇṇānaṁ, Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhatha; Te tattha mante ganthetvā, Okkākaṁ puna mupāgamuṁ.
When they got hold of that wealth, they arranged to store it up. Falling under the sway of desire, their craving grew and grew. They compiled hymns to that end, approached King Okkāka once more and said,
“Và họ, sau khi nhận được của cải ở đó, đã ưa thích việc tích trữ. Đối với họ, những người bị lòng tham xâm chiếm, ái dục càng tăng trưởng. Họ ở đó, soạn ra các câu thần chú, rồi lại đến gặp vua Okkāka.
Yathā āpo ca pathavī ca, Hiraññaṁ dhanadhāniyaṁ; Evaṁ gāvo manussānaṁ, Parikkhāro so hi pāṇinaṁ; Yajassu bahu te vittaṁ, Yajassu bahu te dhanaṁ.
‘Like water and earth, gold coin, riches, and grain, are cows for humankind, as they are essential for creatures. Sacrifice! For you have much treasure. Sacrifice! For you have much money.’
“Giống như nước và đất, vàng, của cải và lúa thóc, cũng vậy, bò là vật dụng của con người, là tài sản của chúng sanh. Hãy tế tự đi, ngài có nhiều tài sản; hãy tế tự đi, ngài có nhiều của cải.”
Tato ca rājā saññatto, Brāhmaṇehi rathesabho; Nekā satasahassiyo, Gāvo yaññe aghātayi.
Persuaded by the brahmins, the king, chief of charioteers, had many hundred thousand cows slain at the sacrifice.
“Rồi nhà vua, người đứng đầu các chiến sĩ, được các Bà-la-môn thuyết phục, đã giết nhiều trăm ngàn con bò trong lễ tế tự.
Na pādā na visāṇena, Nāssu hiṁsanti kenaci; Gāvo eḷakasamānā, Soratā kumbhadūhanā; Tā visāṇe gahetvāna, Rājā satthena ghātayi.
Neither with feet nor with horns do cows harm anyone at all. Cows meek as lambs supply buckets of milk. But taking them by the horns, the king slew them with a sword.
“Chúng không làm hại bằng chân, bằng sừng, hay bằng bất cứ thứ gì; những con bò hiền lành như cừu, dễ bảo, cho sữa đầy bình. Nắm lấy sừng của chúng, nhà vua đã giết chúng bằng dao.
Tato devā pitaro ca, Indo asurarakkhasā; Adhammo iti pakkanduṁ, Yaṁ satthaṁ nipatī gave.
At that the gods and the ancestors, with Indra, the titans and monsters, roared out: ‘This is a crime against nature!’ as the sword fell on the cows.
“Rồi các vị trời, các tổ tiên, Indra, các a-tu-la và dạ-xoa đã kêu lên: ‘Thật là phi pháp!’, khi con dao rơi xuống con bò.”
Tayo rogā pure āsuṁ, Icchā anasanaṁ jarā; Pasūnañca samārambhā, Aṭṭhānavutimāgamuṁ.
There used to be three kinds of illness: greed, starvation, and old age. But due to the slaughter of cows, this grew to be ninety-eight.
“Thuở xưa chỉ có ba loại bệnh: ham muốn, đói khát, và già nua; do việc sát hại gia súc, chín mươi tám (loại bệnh) đã phát sinh.”
Eso adhammo daṇḍānaṁ, Okkanto purāṇo ahu; Adūsikāyo haññanti, Dhammā dhaṁsanti yājakā.
This crime of the rods is of ancient descent. Killing innocent creatures, the sacrificers forsake righteousness.
“Việc phi pháp này đã xảy ra từ thời xa xưa, là một trong các loại hình phạt; những con bò vô tội bị giết hại, những người tế tự đã từ bỏ chánh pháp.”
Evameso aṇudhammo, Porāṇo viññugarahito; Yattha edisakaṁ passati, Yājakaṁ garahatī jano.
And that is how this mean old practice was criticized by sensible people. Wherever they see such a thing, folk criticize the sacrificer.
“Như vậy, pháp thấp hèn có từ xưa này bị người trí quở trách. Ở nơi nào thấy người tế tự như vậy, dân chúng liền quở trách.”
Evaṁ dhamme viyāpanne, Vibhinnā suddavessikā; Puthū vibhinnā khattiyā, Patiṁ bhariyāvamaññatha.
With righteousness gone, peasants and menials were split, as were many aristocrats, and wives looked down on their husbands.
“Khi chánh pháp bị hủy hoại như vậy, giai cấp nông dân (suddā) và thương gia (vessikā) bị chia rẽ; nhiều người thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ cũng bị chia rẽ, người vợ đã khinh thường chồng.”
Khattiyā brahmabandhū ca, Ye caññe gottarakkhitā; Jātivādaṁ nirākatvā, Kāmānaṁ vasamanvagun”ti.
Aristocrats and brahmins only by kin, and others protected by their clan, neglecting their genealogy, fell under the sway of sensual pleasures.”
“Giai cấp Sát-đế-lỵ, những người bà-la-môn (brahmabandhū), và những người khác bảo vệ dòng dõi của mình, sau khi từ bỏ chủ nghĩa giai cấp, đã đi theo quyền lực của các dục vọng.”
Evaṁ vutte, te brāhmaṇamahāsālā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
When he had spoken, those well-to-do brahmins said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! … From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, những vị bà-la-môn đại phú ấy đã bạch với Đức Thế Tôn lời này: “Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama... (v.v)... Mong Tôn giả Gotama hãy ghi nhận chúng con là những người cận sự nam đã quy y trọn đời kể từ hôm nay.”
Brāhmaṇadhammikasuttaṁ sattamaṁ.
Kinh Brāhmaṇadhammika, kinh thứ bảy, đã kết thúc.