- Sutta Nipāta 2.3
Hirisutta
Hiriṁ tarantaṁ vijigucchamānaṁ, Tavāhamasmi iti bhāsamānaṁ; Sayhāni kammāni anādiyantaṁ, Neso mamanti iti naṁ vijaññā.
Bản dịch
Hirisutta
Kẻ (nào) vượt qua sự hổ thẹn, kinh tởm sự hổ thẹn, trong khi nói rằng: ‘Tôi là bạn,’ (nhưng) không nhận lấy các việc làm trong khả năng, nên nhận biết về kẻ ấy rằng: ‘Người này không là (bạn) của tôi.’
Kẻ nào thể hiện lời nói trìu mến ở giữa bạn bè nhưng không làm theo, các bậc sáng suốt biết rõ là kẻ nói mà không làm.
Kẻ nào thường xuyên chú ý, nghi ngờ sự chia rẽ, chuyên soi mói khuyết điểm, kẻ ấy không phải là bạn. Và ở người nào (có thể) trông cậy được tựa như đứa con trai nằm dựa vào ngực (cha), người ấy quả thật là bạn, người ấy không bị chia cắt bởi những kẻ khác.
Trong khi gồng gánh phận sự của nam nhân, người mong cầu Quả Vị làm tăng trưởng (sự tinh tấn), nền tảng tạo ra sự hoan hỷ, (làm tăng trưởng) sự an lạc (Niết Bàn), nguồn mang lại sự khen ngợi.
Sau khi đã uống hương vị của sự ẩn cư và hương vị của sự an tịnh, người uống hương vị hoan hỷ của Giáo Pháp trở nên không còn buồn bực, không còn ác xấu.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Hiriṁ tarantaṁ vijigucchamānaṁ, Tavāhamasmi iti bhāsamānaṁ; Sayhāni kammāni anādiyantaṁ, Neso mamanti iti naṁ vijaññā.
Flouting conscience, loathing it, saying “I’m on your side”, but not following up in deeds—know they’re not on your side.
Kẻ vượt qua lòng hổ thẹn, khinh miệt sự hổ thẹn, miệng thì nói rằng: ‘Tôi là bạn của anh,’ nhưng không đảm nhận những việc có thể làm được, hãy biết rằng: ‘Người này không phải bạn ta.’”
Ananvayaṁ piyaṁ vācaṁ, yo mittesu pakubbati; Akarontaṁ bhāsamānaṁ, parijānanti paṇḍitā.
Some say nice things to their friends without following it up. The wise will recognize one who talks without doing.
Người nào nói lời dễ thương với bạn bè nhưng không đi đôi với việc làm; người chỉ nói mà không làm, bậc trí giả nhận biết rõ.
Na so mitto yo sadā appamatto, Bhedāsaṅkī randhamevānupassī; Yasmiñca seti urasīva putto, Sa ve mitto yo parehi abhejjo.
No true friend relentlessly suspects betrayal, looking for fault. One on whom you rest, like a child on the breast, is a true friend, not split from you by others.
Người nào luôn cảnh giác, nghi ngờ sự chia rẽ, và chỉ chăm chăm tìm lỗi lầm, người đó không phải là bạn. Người mà ta có thể tin cậy như con thơ nằm trên ngực cha, người đó thật sự là bạn, không thể bị người khác chia lìa.
Pāmujjakaraṇaṁ ṭhānaṁ, pasaṁsāvahanaṁ sukhaṁ; Phalānisaṁso bhāveti, vahanto porisaṁ dhuraṁ.
One whose reward is the fruit of bearing the burden of service develops a happy state, producing joy and attracting praise.
Người gánh vác trách nhiệm của bậc nam nhi sẽ phát triển được trạng thái tạo ra hỷ lạc, mang lại lời tán thán và an vui, là người mong cầu kết quả và lợi ích.
Pavivekarasaṁ pitvā, Rasaṁ upasamassa ca; Niddaro hoti nippāpo, Dhammapītirasaṁ pivanti.
One who has drunk the nectar of seclusion and the nectar of peace, free of stress, free of evil, drinks the joyous nectar of Dhamma.
Sau khi đã nếm vị viễn ly và vị an tịnh, người uống vị hỷ lạc của Chánh pháp sẽ trở nên không còn phiền não, không còn tội lỗi.
Hirisuttaṁ tatiyaṁ.
Kinh Hiri, phần thứ ba, đã chấm dứt.