- Sutta Nipāta 1.9
Bản dịch
SNP 1.9 — Kinh Hemavata
Hemavatasutta
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Hôm nay là ngày mười lăm, ngày Uposatha, đêm rực rỡ đã đến rồi. Nào, chúng ta hãy diện kiến bậc Đạo Sư Gotama có danh xưng cao tột.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Phải chăng tâm của bậc như thế ấy là đã được phát nguyện vững chắc hướng đến tất cả chúng sanh? Phải chăng tâm tư của vị này đã đạt đến quyền làm chủ ở đối tượng được ưa thích và không được ưa thích?
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Tâm của vị này, của bậc như thế ấy là đã được phát nguyện vững chắc hướng đến tất cả chúng sanh. Và tâm tư của vị này đã đạt đến quyền làm chủ ở đối tượng được ưa thích và không được ưa thích.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Phải chăng vị ấy không lấy vật không được cho? Phải chăng vị ấy tự kiềm chế về các sanh mạng? Phải chăng vị ấy xa lìa sự xao lãng? Phải chăng vị ấy không bỏ phế việc tham thiền?
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Ngài không lấy vật không được cho, đã tự kiềm chế về các sanh mạng, đã xa lìa sự xao lãng, đức Phật không bỏ phế việc tham thiền.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Phải chăng vị ấy không nói lời dối trá? Phải chăng vị ấy không có lời nói thô lỗ? Phải chăng vị ấy đã không nói lời phá hoại (đâm thọc)? Phải chăng vị ấy không nói nhảm nhí?
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Và vị ấy không nói lời dối trá, cũng không có lời nói thô lỗ, cũng đã không nói lời phá hoại (đâm thọc), là bậc trí, vị ấy nói điều có lợi ích.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Phải chăng vị ấy không luyến ái ở các dục? Phải chăng tâm không bị vẩn đục? Phải chăng vị ấy vượt qua si mê? Phải chăng là bậc hữu nhãn về các pháp?
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Vị ấy không luyến ái ở các dục, và tâm không bị vẩn đục, Ngài vượt qua mọi si mê, đức Phật là bậc hữu nhãn về các pháp.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Phải chăng vị ấy đã thành tựu về minh? Phải chăng vị ấy có sở hành hoàn toàn trong sạch? Phải chăng các lậu hoặc của vị này đã cạn kiệt? Phải chăng không có sự tái sanh lại nữa?
(Dạ-xoa Sātāgira nói) Vị ấy hẳn nhiên đã thành tựu về minh, còn có sở hành hoàn toàn trong sạch, các lậu hoặc của vị này đã cạn kiệt, đối với vị ấy không có sự tái sanh lại nữa.
Tâm của bậc hiền trí là được trọn vẹn với hành động và lời nói. Ngươi hãy thật lòng ca ngợi vị ấy, bậc đã thành tựu minh và hạnh.
Tâm của bậc hiền trí là được trọn vẹn với hành động và lời nói. Ngươi hãy thật lòng tùy hỷ với bậc đã thành tựu minh và hạnh.
Tâm của bậc hiền trí là được trọn vẹn với hành động và lời nói. Nào, chúng ta hãy diện kiến vị Gotama, bậc đã thành tựu minh và hạnh.
Ngươi hãy đến, chúng ta hãy diện kiến vị Gotama, bậc hiền trí có bắp chân như của loài nai, gầy ốm, dũng cảm, ít vật thực, không tham đắm, đang tham thiền ở khu rừng.
Sau khi đến gần bậc Long Tượng đang sống một mình tựa như loài sư tử, không mong mỏi về các dục, chúng ta hãy hỏi Ngài về sự thoát ra khỏi bẫy sập của tử thần.
Chúng ta hãy hỏi vị Gotama, bậc tuyên thuyết, bậc tuyên bố, bậc đã đi đến bờ kia của tất cả các pháp, bậc đã giác ngộ, bậc đã vượt qua thù hận và sợ hãi.
(Dạ-xoa Hemavata nói) Khi cái gì (sanh khởi) thế giới được sanh khởi? liên quan đến cái gì tạo nên sự gắn bó? chấp thủ vào cái gì mà thế giới (hiện hữu)? do cái gì mà thế giới bị sầu khổ?
(Đức Thế Tôn nói với Dạ-xoa Hemavata) Khi sáu (sanh khởi) thế giới được sanh khởi, liên quan đến sáu tạo nên sự gắn bó, chấp thủ vào sáu mà thế giới (hiện hữu), do sáu mà thế giới bị sầu khổ.
Sự chấp thủ ấy là cái gì mà tại nơi ấy thế giới bị sầu khổ? Được hỏi về lối dẫn dắt ra khỏi xin Ngài hãy nói, làm thế nào được thoát khỏi khổ đau?
Năm loại dục được vui thích ở thế gian, với ý là thứ sáu. Sau khi lìa khỏi sự mong muốn ở nơi này, như vậy thì được thoát khỏi khổ đau.
Điều này là lối dẫn dắt ra khỏi thế giới, đã được nói cho các ngươi đúng theo thực thể. Ta nói ra điều này cho các ngươi, như vậy thì được thoát khỏi khổ đau.
Vậy ở đây ai vượt qua cơn lũ, ở đây ai vượt qua biển cả, ai không chìm xuống nơi sâu thẳm không có chỗ nâng đỡ, không có vật để nắm vào?
Vị luôn luôn thành tựu giới, có tuệ, khéo định tĩnh, có tâm tư hướng nội, có niệm, vượt qua cơn lũ khó vượt qua được.
Vị không còn vui thích ở dục tưởng, đã vượt lên khỏi mọi sự ràng buộc, đã hoàn toàn cạn kiệt sự vui thích và hiện hữu, vị ấy không chìm xuống nơi sâu thẳm.
Chúng ta hãy chiêm ngưỡng bậc Đại Ẩn Sĩ ấy, bậc có tuệ thâm sâu, bậc nhìn thấy ý nghĩa vi tế, không sở hữu gì, không dính mắc ở dục và hữu, đã được giải thoát về mọi phương diện, đang bước đi ở con đường thiên giới.
Chúng ta hãy chiêm ngưỡng bậc Đại Ẩn Sĩ ấy, bậc có danh xưng cao tột, bậc nhìn thấy ý nghĩa vi tế, bậc ban bố trí tuệ, không dính mắc ở trạng thái tiềm ẩn của các dục, bậc biết tất cả, bậc khôn ngoan, đang bước đi ở con đường thánh thiện.
Quả thật hôm nay chúng ta đã nhìn thấy rõ ràng, bình minh rạng rỡ đã mọc lên tốt đẹp, nhờ thế chúng ta đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua (bốn) dòng nước lũ, không còn lậu hoặc.
Một ngàn Dạ-xoa này, có thần thông, có danh tiếng, tất cả đi đến nương nhờ Ngài. Ngài là bậc Đạo Sư vô thượng của chúng tôi.
Chúng tôi đây sẽ du hành từ làng này đến làng nọ, từ núi này đến núi khác, kính lễ đấng Toàn Giác và tính chất thánh thiện của Giáo Pháp.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Kinh Tập (Suttanipāta). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Anthology of Discourses 1.9
With Hemavata
9. Kinh Hemavata
“Ajja pannaraso uposatho, (iti sātāgiro yakkho) Dibbā ratti upaṭṭhitā; Anomanāmaṁ satthāraṁ, Handa passāma gotamaṁ”.
“Today is the fifteenth day sabbath,” said Sātāgira, the native spirit of mount Sātā, “a holy night is at hand. Come now, let us see Gotama, the Teacher of peerless name.”
(Dạ xoa Sātāgira nói:) "Hôm nay là ngày rằm, ngày Uposatha, đêm nay thật huy hoàng. Nào, chúng ta hãy đến yết kiến bậc Đạo sư có danh hiệu cao quý, đức Gotama."
“Kacci mano supaṇihito, (iti hemavato yakkho) Sabbabhūtesu tādino; Kacci iṭṭhe aniṭṭhe ca, Saṅkappassa vasīkatā”.
“Isn’t his mind well-disposed,” said Hemavata, the native spirit of the Himalayas, “impartial toward all creatures? And aren’t his thoughts under control when it comes to likes and dislikes?”
(Dạ xoa Hemavata hỏi:) "Tâm của bậc Như Nhiên ấy đối với tất cả chúng sanh có được khéo định tĩnh không? Đối với cảnh khả ý và bất khả ý, các tư duy của ngài có được làm chủ không?"
“Mano cassa supaṇihito, (iti sātāgiro yakkho) Sabbabhūtesu tādino; Atho iṭṭhe aniṭṭhe ca, Saṅkappassa vasīkatā”.
“His mind is well-disposed,” said Sātāgira, “impartial toward all creatures. His thoughts are under control when it comes to his likes and dislikes.”
(Dạ xoa Sātāgira đáp:) "Tâm của bậc Như Nhiên ấy đối với tất cả chúng sanh được khéo định tĩnh. Và các tư duy của ngài đối với cảnh khả ý và bất khả ý được làm chủ."
“Kacci adinnaṁ nādiyati, (iti hemavato yakkho) Kacci pāṇesu saññato; Kacci ārā pamādamhā, Kacci jhānaṁ na riñcati”.
“Doesn’t he not steal?” said Hemavata, “And doesn’t he harm not a creature? Isn’t he far from negligence? And doesn’t he not neglect absorption?”
(Dạ xoa Hemavata hỏi:) "Ngài có không lấy của không cho chăng? Có thu thúc đối với các chúng sanh chăng? Có xa lìa sự dễ duôi chăng? Có không từ bỏ thiền định chăng?"
“Na so adinnaṁ ādiyati, (iti sātāgiro yakkho) Atho pāṇesu saññato; Atho ārā pamādamhā, Buddho jhānaṁ na riñcati”.
“He does not take what is not given,” said Sātāgira, “and he harms not a creature. He is far from negligence—the Buddha does not neglect absorption.”
(Dạ xoa Sātāgira đáp:) "Ngài không lấy của không cho, và ngài thu thúc đối với các chúng sanh. Và ngài xa lìa sự dễ duôi, Đức Phật không từ bỏ thiền định."
“Kacci musā na bhaṇati, (iti hemavato yakkho) Kacci na khīṇabyappatho; Kacci vebhūtiyaṁ nāha, Kacci samphaṁ na bhāsati”.
“Doesn’t he avoid lying?” said Hemavata, “And doesn’t he not speak sharply? Doesn’t he avoid backbiting, as well as speaking nonsense?”
(Dạ xoa Hemavata hỏi:) "Ngài có không nói dối chăng? Có không nói lời ác khẩu chăng? Có không nói lời đâm thọc chăng? Có không nói lời vô ích chăng?"
“Musā ca so na bhaṇati, (iti sātāgiro yakkho) Atho na khīṇabyappatho; Atho vebhūtiyaṁ nāha, Mantā atthañca bhāsati”.
“He does not lie,” said Sātāgira, “nor does he speak sharply. He avoids backbiting, and thoughtfully speaks wise counsel.”
(Dạ xoa Sātāgira đáp:) "Ngài không nói dối, và không nói lời ác khẩu. Và không nói lời đâm thọc, ngài nói lời có lợi ích sau khi đã suy xét."
“Kacci na rajjati kāmesu, (iti hemavato yakkho) Kacci cittaṁ anāvilaṁ; Kacci mohaṁ atikkanto, Kacci dhammesu cakkhumā”.
“Doesn’t he find sensual pleasures unattractive?” said Hemavata, “And isn’t his mind unclouded? Hasn’t he escaped delusion? Does his eye see clearly in all things?”
(Dạ xoa Hemavata hỏi:) "Ngài có không tham đắm trong các dục chăng? Tâm ngài có không bị vẩn đục chăng? Ngài có vượt qua si mê chăng? Có pháp nhãn đối với các pháp chăng?"
“Na so rajjati kāmesu, (iti sātāgiro yakkho) Atho cittaṁ anāvilaṁ; Sabbamohaṁ atikkanto, Buddho dhammesu cakkhumā”.
“He does not find sensual pleasures attractive,” said Sātāgira, “and his mind is unclouded. He has escaped all delusion—the Buddha, whose eye sees clearly in all things.”
(Dạ xoa Sātāgira đáp:) "Ngài không tham đắm trong các dục, và tâm ngài không bị vẩn đục. Ngài đã vượt qua mọi si mê, Đức Phật có pháp nhãn đối với các pháp."
“Kacci vijjāya sampanno, (iti hemavato yakkho) Kacci saṁsuddhacāraṇo; Kaccissa āsavā khīṇā, Kacci natthi punabbhavo”.
“Isn’t he accomplished in knowledge?” said Hemavata, “And doesn’t he live a pure life? Aren’t his defilements all ended? Doesn’t he have no future lives?”
(Dạ xoa Hemavata hỏi:) "Ngài có đầy đủ minh chăng? Có hạnh thanh tịnh chăng? Các lậu hoặc của ngài đã được đoạn tận chưa? Có còn tái sanh nữa không?"
“Vijjāya ceva sampanno, (iti sātāgiro yakkho) Atho saṁsuddhacāraṇo; Sabbassa āsavā khīṇā, Natthi tassa punabbhavo”.
“He is accomplished in knowledge,” said Sātāgira, “and he does live a pure life. His defilements are all ended, there’ll be no more future lives for him.”
(Dạ xoa Sātāgira đáp:) "Ngài đầy đủ minh, và có hạnh thanh tịnh. Tất cả lậu hoặc của ngài đã được đoạn tận, ngài không còn tái sanh nữa."
“Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Dhammato naṁ pasaṁsati”.
“Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct as per the teaching you praise.”
(Hemavata nói:) "Tâm của bậc Mâu-ni thật viên mãn, cả về hành động và lời nói. Bạn đã tán thán ngài, bậc đầy đủ minh và hạnh, đúng theo Chánh pháp."
“Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Dhammato anumodasi.
“Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct as per the teaching you rejoice in.
(Sātāgira nói:) "Tâm của bậc Mâu-ni thật viên mãn, cả về hành động và lời nói. Bạn đã tùy hỷ với ngài, bậc đầy đủ minh và hạnh, đúng theo Chánh pháp."
Sampannaṁ munino cittaṁ, Kammunā byappathena ca; Vijjācaraṇasampannaṁ, Handa passāma gotamaṁ”.
Accomplished is the sage’s mind in action and in speech, and he’s accomplished in knowledge and conduct: come now, let us see Gotama.”
(Cả hai cùng nói:) "Tâm của bậc Mâu-ni thật viên mãn, cả về hành động và lời nói. Nào, chúng ta hãy đến yết kiến đức Gotama, bậc đầy đủ minh và hạnh."
“Eṇijaṅghaṁ kisaṁ vīraṁ, Appāhāraṁ alolupaṁ; Muniṁ vanasmiṁ jhāyantaṁ, Ehi passāma gotamaṁ.
“The hero so lean, with antelope calves, not greedy, eating little, the sage meditating alone in the forest, come now, let us see Gotama.
(Hemavata nói:) "Hãy đến, chúng ta hãy yết kiến đức Gotama, người có bắp chân như nai, thân hình thanh tao, bậc anh hùng, ăn ít, không tham ăn, bậc Mâu-ni đang thiền định trong rừng."
Sīhaṁvekacaraṁ nāgaṁ, Kāmesu anapekkhinaṁ; Upasaṅkamma pucchāma, Maccupāsappamocanaṁ.
A giant, wandering alone like a lion, unconcerned for sensual pleasures, let’s approach him and ask about release from the snare of death.”
(Sātāgira nói:) "Chúng ta hãy đến gần và hỏi ngài, bậc như sư tử đi một mình, bậc Long tượng không luyến ái các dục, về sự giải thoát khỏi cạm bẫy của thần chết."
Akkhātāraṁ pavattāraṁ, Sabbadhammāna pāraguṁ; Buddhaṁ verabhayātītaṁ, Mayaṁ pucchāma gotamaṁ”.
“The communicator, the instructor, who has gone beyond all things, Awakened, beyond enmities and fears, let us ask Gotama.”
(Cả hai cùng nói:) "Chúng ta hãy hỏi đức Gotama, bậc tuyên thuyết, bậc giảng giải, người đã đến bờ kia của tất cả các pháp, bậc Giác Ngộ đã vượt qua oán thù và sợ hãi."
“Kismiṁ loko samuppanno, (iti hemavato yakkho) Kismiṁ kubbati santhavaṁ; Kissa loko upādāya, Kismiṁ loko vihaññati”.
“Chasu loko samuppanno,
“What has the world arisen in?” said Hemavata, “What does it get close to? By grasping what is the world troubled in what?”
“The world’s arisen in six,”
“Thế gian được sanh khởi từ đâu, (dạ xoa Hemavata hỏi) thế gian tạo sự thân thiết với cái gì? Do chấp thủ cái gì mà có thế gian, và do đâu thế gian bị phiền não?”
“Thế gian được sanh khởi từ sáu xứ, (này Hemavata, Đức Thế Tôn đáp) thế gian tạo sự thân thiết với sáu xứ. Do chấp thủ chính sáu xứ ấy, và do sáu xứ ấy mà thế gian bị phiền não.”
“Katamaṁ taṁ upādānaṁ, Yattha loko vihaññati; Niyyānaṁ pucchito brūhi, Kathaṁ dukkhā pamuccati”.
“What is that grasping by which the world is troubled? Tell us the exit when asked: how is one released from all suffering?”
“Sự chấp thủ ấy là gì, nơi mà thế gian bị phiền não? Được hỏi, xin Ngài hãy nói về con đường giải thoát, làm thế nào để thoát khỏi khổ đau?”
“Pañca kāmaguṇā loke, Manochaṭṭhā paveditā; Ettha chandaṁ virājetvā, Evaṁ dukkhā pamuccati.
“The world has five kinds of sensual stimulation, and the mind is said to be the sixth. When you’ve discarded desire for these, you’re released from all suffering.
“Năm dục trưởng dưỡng ở thế gian, cùng với ý là thứ sáu, đã được tuyên thuyết. Khi đã từ bỏ tham dục nơi đây, như vậy sẽ thoát khỏi khổ đau.”
Etaṁ lokassa niyyānaṁ, Akkhātaṁ vo yathātathaṁ; Etaṁ vo ahamakkhāmi, Evaṁ dukkhā pamuccati”.
This is the exit from the world, explained in accord with the truth. The way I’ve explained it is how you’re released from all suffering.”
“Đây là con đường giải thoát của thế gian, đã được Ta tuyên thuyết cho các ngươi đúng như thật. Ta tuyên thuyết điều này cho các ngươi, rằng như vậy sẽ thoát khỏi khổ đau.”
“Ko sūdha tarati oghaṁ, Kodha tarati aṇṇavaṁ; Appatiṭṭhe anālambe, Ko gambhīre na sīdati”.
“Who here crosses the flood, Who crosses the deluge? Who, not standing and unsupported, does not sink in the deep?”
“Ở đây, ai vượt qua được bộc lưu? Ở đây, ai vượt qua được biển cả? Không nơi nương tựa, không chỗ bám víu, ai không chìm trong vực thẳm sâu?”
“Sabbadā sīlasampanno, Paññavā susamāhito; Ajjhattacintī satimā, Oghaṁ tarati duttaraṁ.
“Someone who is always endowed with ethics, wise and serene, inwardly reflective, mindful, crosses the flood so hard to cross.
“Người luôn luôn đầy đủ giới hạnh, có trí tuệ, khéo định tĩnh, quán chiếu nội tâm, có chánh niệm, người ấy vượt qua được bộc lưu khó vượt.”
Virato kāmasaññāya, Sabbasaṁyojanātigo; Nandībhavaparikkhīṇo, So gambhīre na sīdati”.
Someone who desists from sensual perception, who has escaped all fetters, and has ended relish for rebirth, does not sink in the deep.”
“Người đã từ bỏ tưởng về dục, vượt qua mọi kiết sử, đã đoạn tận hỷ và hữu, người ấy không chìm trong vực thẳm sâu.”
“Gambhīrapaññaṁ nipuṇatthadassiṁ, Akiñcanaṁ kāmabhave asattaṁ; Taṁ passatha sabbadhi vippamuttaṁ, Dibbe pathe kamamānaṁ mahesiṁ.
“Behold him of wisdom deep <j>who sees the subtle meaning, who has nothing, unattached to sensual life, everywhere free, the great seer treading the holy road.
“Hãy nhìn xem bậc Đại Sĩ, có trí tuệ sâu xa, thấy được nghĩa lý vi tế, không còn chướng ngại, không dính mắc trong cõi dục và cõi hữu, đã hoàn toàn giải thoát khỏi tất cả, đang bước đi trên con đường của chư thiên.”
Anomanāmaṁ nipuṇatthadassiṁ, Paññādadaṁ kāmālaye asattaṁ; Taṁ passatha sabbaviduṁ sumedhaṁ, Ariye pathe kamamānaṁ mahesiṁ.
Behold him of peerless name <j>who sees the subtle meaning, giver of wisdom, <j>unattached to the realm of sensuality: the all-knower, so very intelligent, the great seer treading the noble road.
“Hãy nhìn xem bậc Đại Sĩ, có danh xưng cao thượng, thấy được nghĩa lý vi tế, ban cho trí tuệ, không dính mắc nơi trú ẩn của dục, bậc Toàn Tri, có trí tuệ tốt đẹp, đang bước đi trên con đường của bậc Thánh.”
Sudiṭṭhaṁ vata no ajja, Suppabhātaṁ suhuṭṭhitaṁ; Yaṁ addasāma sambuddhaṁ, Oghatiṇṇamanāsavaṁ.
It was a fine sight for us today, a good dawn, a good rising, to see the Awakened One, the undefiled one who has crossed the flood.
“Hôm nay chúng con thật thấy được điều lành, bình minh tốt đẹp, thức dậy an lành, vì chúng con đã được thấy bậc Chánh Giác, đã vượt qua bộc lưu, không còn lậu hoặc.”
Ime dasasatā yakkhā, Iddhimanto yasassino; Sabbe taṁ saraṇaṁ yanti, Tvaṁ no satthā anuttaro.
These thousand native spirits powerful and glorious, all go to you for refuge, you are our supreme Teacher.
“Một ngàn dạ xoa này, có thần thông và danh tiếng, tất cả đều quy y Ngài. Ngài là bậc Đạo Sư vô thượng của chúng con.”
Te mayaṁ vicarissāma, Gāmā gāmaṁ nagā nagaṁ; Namassamānā sambuddhaṁ, Dhammassa ca sudhammatan”ti.
We shall journey village to village, peak to peak, paying homage to the Buddha, and the clear rightness of the teaching!”
“Chúng con sẽ đi từ làng này đến làng khác, từ núi này đến núi khác, đảnh lễ bậc Chánh Giác và Pháp tánh cao đẹp của giáo pháp.”
Hemavatasuttaṁ navamaṁ.
Kinh Hemavata, phẩm thứ chín, kết thúc.