- Saṁyutta Nikāya 9.8
- 1. Vanavagga
Bản dịch
SN 9.8 — Kinh Kulagharaṇī
Kulagharaṇīsutta
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối với một gia đình.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:
Trên bờ sông, cửa chợ,
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Tại trạm nghỉ, lộ trình,
Dân chúng thường tập hợp,
Tranh luận liền khởi lên.
Giữa ta và giữa Ông,
Có gì là sai khác?Nhiều tiếng qua tiếng lại,
Bậc khổ hạnh kham nhẫn,
Chớ cảm thấy bực phiền,
Chớ phát sinh nhiễm trước.
Ai bị tiếng rối loạn,
Như nai trong rừng rú,
Ðược gọi là khinh tâm,
Khó tu hành thành tựu.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 9.8
- 1. In the Woods
The Mistress of the House
8. Kinh Kulagharaṇī
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu aññatarasmiṁ kule ativelaṁ ajjhogāḷhappatto viharati. Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yā tasmiṁ kule kulagharaṇī, tassā vaṇṇaṁ abhinimminitvā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāya ajjhabhāsi:
At one time one of the monks was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that monk had become too closely involved in the affairs of a certain family. The deity haunting that forest had sympathy for that monk, wanting what’s best for him. So, wanting to stir him up, they manifested in the appearance of the mistress of that family, approached the monk, and addressed him in verse:
228. Một thời, một vị tỳ khưu nọ trú ở xứ Kosala, trong một khu rừng nọ. Vào lúc ấy, vị tỳ khưu ấy trú ngụ quá lâu, đã trở nên quá thân thiết với một gia đình nọ. Rồi, vị thiên nhân trú ngụ trong khu rừng ấy, có lòng thương xót vị tỳ khưu ấy, mong muốn lợi ích, muốn làm cho vị tỳ khưu ấy xúc động, đã hóa hiện thành hình dạng của nữ gia chủ trong gia đình ấy, đã đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, đã nói với vị tỳ khưu ấy bằng kệ ngôn:
“Nadītīresu saṇṭhāne, sabhāsu rathiyāsu ca; Janā saṅgamma mantenti, mañca tañca kimantaran”ti.
“At river banks and guest houses, hotels and highways, people gather to gossip about what’s going on between you and me.”
“Ở bên bờ sông, ở nơi nghỉ chân, ở các hội trường, và ở các con đường, người ta tụ tập lại và bàn tán về tôi và ngài, là có chuyện gì?”
“Bahūhi saddā paccūhā, khamitabbā tapassinā; Na tena maṅku hotabbaṁ, na hi tena kilissati.
“There are many sounds echoing that a fervent ascetic must endure. They ought not be dismayed by that, for that’s not what defiles you.
“Có nhiều lời nói chống đối, người tu khổ hạnh phải nhẫn chịu. Không nên vì thế mà bối rối, vì người ấy không bị ô nhiễm bởi điều đó.”
Yo ca saddaparittāsī, vane vātamigo yathā; Lahucittoti taṁ āhu, nāssa sampajjate vatan”ti.
If you’re startled by every little sound, like a wind-deer in the wood, they’ll call you ‘flighty minded’; and your practice won’t succeed.”
“Người nào thường sợ hãi trước những âm thanh (tranh cãi), như con nai trong rừng kinh sợ tiếng gió; các bậc trí gọi người ấy là kẻ có tâm nhẹ dạ, pháp hành của người ấy không thể thành tựu.”