- Saṁyutta Nikāya 9.2
- 1. Vanavagga
Bản dịch
SN 9.2 — Kinh Sự Tỉnh Thức
Upaṭṭhānasutta
Vi-n 1 Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày.
Vi-n 3 Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
Vi-n 4 Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Tỷ-kheo, hãy thức dậy,
Vi-n 5 (Vị Tỷ-kheo):
Sao Ông hãy còn nằm?
Ông được lợi ích gì,
Trong giấc ngủ của ông?
Kẻ bịnh, kẻ trúng tên,
Bị đánh sao ngủ được?
Vì lòng tin, xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Tín ấy cần phát triển,
Chớ để ngủ chinh phục.Các dục là vô thường,
Chỉ kẻ ngu say đắm,
Ðã giải thoát triền phược,
Không còn bị ái trước.
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Ðã nhiếp phục dục ái,
Vượt thoát lưới vô minh,
Với chánh trí thanh tịnh,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Với minh phá vô minh,
Ðoạn diệt các lậu hoặc,
Không sầu, không ưu não,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Tinh tấn và nhiệt tâm,
Thường dõng mãnh cầu tiến,
Hướng vọng đến Niết-bàn,
Hạnh xuất gia như vậy,
Sao để dục nhiệt não?
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 9.2
- 1. In the Woods
Application
2. Kinh Sự Tỉnh Thức
Ekaṁ samayaṁ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṁ vanasaṇḍe.
Tena kho pana samayena so bhikkhu divāvihāragato supati. Atha kho yā tasmiṁ vanasaṇḍe adhivatthā devatā tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṁ bhikkhuṁ saṁvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
At one time one of the mendicants was staying in the land of the Kosalans in a certain forest grove.
Now at that time that mendicant went for the day’s meditation, but fell asleep. The deity haunting that forest had sympathy for that mendicant, and wanted what’s best for them. So they approached that mendicant wanting to stir them up, and addressed them in verse:
222. Một thời, một Tỳ-khưu nọ trú trong một khu rừng ở xứ Kosala. Vào lúc ấy, vị Tỳ-khưu ấy, trong khi độc cư ban ngày, lại ngủ. Bấy giờ, một vị thiên trú trong khu rừng ấy, vì lòng thương tưởng, muốn mưu cầu lợi ích cho vị Tỳ-khưu, muốn làm cho vị ấy xúc động, đã đi đến chỗ vị Tỳ-khưu. Sau khi đến, vị thiên đã nói với vị Tỳ-khưu bằng những câu kệ:
“Uṭṭhehi bhikkhu kiṁ sesi, ko attho supitena te; Āturassa hi kā niddā, sallaviddhassa ruppato.
“Get up, mendicant! Why lie down? What’s the point in sleeping? How can the afflicted slumber, inflicted by an arrow strike?
“Hãy trỗi dậy, Tỳ-khưu! Sao ngài lại ngủ? Có ích lợi gì trong giấc ngủ của ngài? Đối với người bệnh hoạn, bị mũi tên đâm, đang đau đớn, làm sao có thể ngủ được?”
Yāya saddhāya pabbajito, agārasmānagāriyaṁ; Tameva saddhaṁ brūhehi, mā niddāya vasaṁ gamī”ti.
You should amplify the faith that led you to go forth from the lay life to homelessness. Don’t fall under the sway of slumber.”
“Với tín tâm nào ngài đã xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình để sống không nhà, hãy làm tăng trưởng chính tín tâm ấy. Chớ để giấc ngủ chi phối ngài.”
“Aniccā addhuvā kāmā, yesu mandova mucchito; Baddhesu muttaṁ asitaṁ, kasmā pabbajitaṁ tape.
“Sensual pleasures are impermanent and unstable, but dullards still fall for them. Among those who are bound, <j>they’re free and unattached: why bother a renunciate?
“Các dục là vô thường, không bền vững, kẻ ngu si mới say đắm trong đó. Đối với người xuất gia đã giải thoát khỏi các ràng buộc, không còn nương tựa, sao lại có thể bị phiền não?”
Chandarāgassa vinayā, avijjāsamatikkamā; Taṁ ñāṇaṁ paramodānaṁ, kasmā pabbajitaṁ tape.
By removing desire and greed, by going beyond ignorance, that knowledge has been perfectly cleansed: why bother a renunciate?
“Do đã nhiếp phục dục tham, do đã vượt qua vô minh, người xuất gia có trí tuệ thanh tịnh tối thượng, sao lại có thể bị phiền não?”
Chetvā avijjaṁ vijjāya, āsavānaṁ parikkhayā; Asokaṁ anupāyāsaṁ, kasmā pabbajitaṁ tape.
By breaking ignorance with knowledge, by the ending of defilements, they’re sorrowless, unstressed: why bother a renunciate?
“Do đã đoạn trừ vô minh bằng minh trí, do đã tận diệt các lậu hoặc, người xuất gia không sầu, không muộn phiền, sao lại có thể bị phiền não?”
Āraddhavīriyaṁ pahitattaṁ, Niccaṁ daḷhaparakkamaṁ; Nibbānaṁ abhikaṅkhantaṁ, Kasmā pabbajitaṁ tape”ti.
Energetic, resolute, always staunchly vigorous, aspiring to extinguishment: why bother a renunciate?”
“Người xuất gia có tinh tấn đã được khởi xướng, tâm đã được hướng đến, luôn nỗ lực kiên trì, đang khao khát Niết-bàn, sao lại có thể bị phiền não?”