- Saṁyutta Nikāya 6.5
- 1. Paṭhamavagga
Bản dịch
SN 6.5 — Kinh Vị Phạm Thiên Nào Đó
Aññatarabrahmasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một Phạm thiên khác có khởi lên một ác tà kiến như sau: “Không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể đến ở đây”.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư của Phạm thiên ấy. Như người lực sĩ…, … hiện ra trong Phạm thiên giới ấy.
Vi-n 4 Rồi Thế Tôn ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”.
Vi-n 6 Mahà Moggallāna, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm thiên ấy, toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna ngồi kiết-già giữa hư không về phía Đông, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.
Vi-n 8 Rồi Tôn giả Mahà Kasspa (Ðại Ca-diếp) khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Mahà Kassapa thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không…, … thấy vậy như nhà lực sĩ…, … cũng vậy, biến mất ở Jetavana, hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa ngồi kiết-già giữa hư không về phía Nam, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.
Vi-n 9 Rồi Mahà Kappina (Ðại Kiếp-tân-na) khởi lên ý nghĩ: “Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?”
Vi-n 10 Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Mahà Kappina thấy Thế Tôn…, … toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ…, … cũng vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kappina ngồi kiết-già giữa hư không về phía Tây, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà) khởi lên ý nghĩ: “Thế Tôn hiện nay đang trú ở đâu?”. Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả Anuruddha thấy…, … hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi Tôn giả Anuraddha ngồi kiết-già giữa hư không về phía Bắc, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn thân phun lửa.
Vi-n 12 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna nói lên bài kệ với Phạm thiên ấy:
Này Hiền giả, hôm nay,
Vi-n 13 (Phạm thiên ấy):
Người còn giữ tà kiến
Như tà kiến của Ông,
Ðã gìn giữ thời xưa.
Ông có thấy hào quang
Siêu việt Phạm thiên giới?Này Thân hữu, nay tôi
Không còn giữ tà kiến,
Như tà kiến của tôi,
Ðã gìn giữ thời xưa.
Tôi có thấy hào quang,
Siêu việt Phạm thiên giới,
Làm sao tôi chấp nhận:
“Tôi là thường, là hằng”?
Vi-n 14 Rồi Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy dao động, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất tại Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Jetavana.
Vi-n 15 Rồi Phạm thiên ấy gọi một Phạm thiên chúng:
—Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna; sau khi đến, thưa với Tôn giả Mahà Moggallāna: “Thưa Tôn giả Moggallāna, bậc Thế Tôn ấy có những vị đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina và Anuruddha?”
Vi-n 16 —Thưa vâng, Tôn giả.
Phạm thiên chúng ấy vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả Mahà Moggallāna.
Vi-n 17 Sau khi đến, vị ấy thưa với Tôn giả Mahà Moggallāna:
—Thưa Tôn giả Moggallāna, bậc Thế Tôn ấy có những đệ tử nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina, Anuruddha?
Vi-n 18 Rồi Tôn giả Mahà Moggallāna nói lên bài kệ với Phạm thiên chúng ấy:
Chứng ba minh thần lực,
Khéo đọc hiểu tâm người,
Bậc lậu tận La-hán,
Ðệ tử Phật rất nhiều.
Vi-n 19 Rồi Phạm thiên chúng ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà Moggallāna nói, đi đến Ðại Phạm thiên; sau khi đến, nói với vị Phạm thiên ấy:
—Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahà Moggallāna nói như sau:
“Chứng ba minh thần lực,
Khéo đọc hiểu tâm người,
Bậc lậu tận La-hán,
Ðệ tử Phật rất nhiều.”
Vi-n 20 Phạm thiên chúng ấy nói như vậy. Vị Phạm thiên kia hoan hỷ, tín thọ lời nói của Phạm thiên chúng ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 6.5
- 1. The Appeal
A Certain Divinity
5. Kinh Vị Phạm Thiên Nào Đó
Sāvatthinidānaṁ.
Tena kho pana samayena aññatarassa brahmuno evarūpaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ hoti: “natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo idha āgaccheyyā”ti.
Atha kho bhagavā tassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso …pe… tasmiṁ brahmaloke pāturahosi. Atha kho bhagavā tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṁ samāpajjitvā.
At Sāvatthī.
Now at that time a certain divinity had the following harmful misconception: “No ascetic or brahmin can come here!”
Then the Buddha knew that divinity’s train of thought. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from Jeta’s Grove and reappeared in that realm of divinity. Then the Buddha sat cross-legged in the air above that divinity, having entered upon the fire element.
176. Nhân duyên ở Sāvatthī. Vào lúc bấy giờ, một vị Phạm thiên nào đó đã khởi lên tà kiến như sau: ‘Không có Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể đến đây.’ Bấy giờ, Thế Tôn, với tâm của mình biết được tư duy trong tâm của vị Phạm thiên ấy, ví như người lực sĩ... vân vân... đã hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy. Rồi Thế Tôn ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, nhập vào hỏa giới.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi: “kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharatī”ti? Addasā kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisinnaṁ tejodhātuṁ samāpannaṁ. Disvāna—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—jetavane antarahito tasmiṁ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno puratthimaṁ disaṁ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṁ samāpajjitvā nīcataraṁ bhagavato.
Then Venerable Mahāmoggallāna thought, “Where is the Buddha staying at present?” With clairvoyance that is purified and superhuman, he saw the Buddha seated cross-legged in the air above that divinity, having entered upon the fire element. Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from Jeta’s Grove and reappeared in that realm of divinity. Then Mahāmoggallāna—positioning himself in the east, below the Buddha—sat cross-legged in the air above that divinity, having entered upon the fire element.
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ: ‘Hiện nay Thế Tôn đang trú ở đâu?’ Tôn giả Mahāmoggallāna với thiên nhãn thanh tịnh, siêu việt nhãn của loài người, đã thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, đã nhập vào hỏa giới. Sau khi thấy, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi Jetavana và hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy. Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, nương vào phương đông, ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, nhập vào hỏa giới, ở vị trí thấp hơn Thế Tôn.
Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi: “kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharatī”ti? Addasā kho āyasmā mahākassapo bhagavantaṁ dibbena cakkhunā …pe… disvāna—seyyathāpi nāma balavā puriso …pe… evameva—jetavane antarahito tasmiṁ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākassapo dakkhiṇaṁ disaṁ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṁ samāpajjitvā nīcataraṁ bhagavato.
Then Venerable Mahākassapa … positioned himself in the south …
Bấy giờ, Tôn giả Mahākassapa khởi lên ý nghĩ: ‘Hiện nay Thế Tôn đang trú ở đâu?’ Tôn giả Mahākassapa với thiên nhãn... vân vân... đã thấy Thế Tôn... Sau khi thấy, ví như người lực sĩ... vân vân... cũng vậy, ngài biến mất khỏi Jetavana và hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy. Rồi Tôn giả Mahākassapa, nương vào phương nam, ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, nhập vào hỏa giới, ở vị trí thấp hơn Thế Tôn.
Atha kho āyasmato mahākappinassa etadahosi: “kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharatī”ti? Addasā kho āyasmā mahākappino bhagavantaṁ dibbena cakkhunā …pe… tejodhātuṁ samāpannaṁ. Disvāna—seyyathāpi nāma balavā puriso …pe… evameva—jetavane antarahito tasmiṁ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākappino pacchimaṁ disaṁ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṁ samāpajjitvā nīcataraṁ bhagavato.
Venerable Mahākappina … positioned himself in the west …
Bấy giờ, Tôn giả Mahākappina khởi lên ý nghĩ: ‘Hiện nay Thế Tôn đang trú ở đâu?’ Tôn giả Mahākappina với thiên nhãn... vân vân... đã thấy Thế Tôn... đã nhập vào hỏa giới. Sau khi thấy, ví như người lực sĩ... vân vân... cũng vậy, ngài biến mất khỏi Jetavana và hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy. Rồi Tôn giả Mahākappina, nương vào phương tây, ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, nhập vào hỏa giới, ở vị trí thấp hơn Thế Tôn.
Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi: “kahaṁ nu kho bhagavā etarahi viharatī”ti? Addasā kho āyasmā anuruddho …pe… tejodhātuṁ samāpannaṁ. Disvāna—seyyathāpi nāma balavā puriso …pe… tasmiṁ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā anuruddho uttaraṁ disaṁ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṁ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṁ samāpajjitvā nīcataraṁ bhagavato.
Venerable Anuruddha … positioned himself in the north, below the Buddha, sitting cross-legged in the air above that divinity, having entered upon the fire element.
Bấy giờ, Tôn giả Anuruddha khởi lên ý nghĩ: ‘Hiện nay Thế Tôn đang trú ở đâu?’ Tôn giả Anuruddha... vân vân... đã thấy... đã nhập vào hỏa giới. Sau khi thấy, ví như người lực sĩ... vân vân... ngài hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy. Rồi Tôn giả Anuruddha, nương vào phương bắc, ngồi kiết-già trên không trung phía trên vị Phạm thiên ấy, nhập vào hỏa giới, ở vị trí thấp hơn Thế Tôn.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ brahmānaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Mahāmoggallāna addressed that divinity in verse:
Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với vị Phạm thiên ấy bằng một bài kệ:
“Ajjāpi te āvuso sā diṭṭhi, Yā te diṭṭhi pure ahu; Passasi vītivattantaṁ, Brahmaloke pabhassaran”ti.
“Reverend, do you still have the same view that you had in the past? Or do you see the radiance surpassing the realm of divinity?”
“Này hiền hữu, nay ông vẫn còn tà kiến ấy, tà kiến mà ông đã có trước kia. Ông có thấy ánh sáng rực rỡ ở cõi Phạm thiên, vượt qua tất cả không?”
“Na me mārisa sā diṭṭhi, yā me diṭṭhi pure ahu; Passāmi vītivattantaṁ, brahmaloke pabhassaraṁ; Svāhaṁ ajja kathaṁ vajjaṁ, ahaṁ niccomhi sassato”ti.
“Good fellow, I don’t have that view that I had in the past. I see the radiance surpassing the realm of divinity. So how could I say today that I am permanent and eternal?”
“Này hiền giả, tôi không còn tà kiến ấy, tà kiến mà tôi đã có trước kia. Tôi thấy ánh sáng rực rỡ ở cõi Phạm thiên, vượt qua tất cả. Vậy hôm nay làm sao tôi có thể nói: ‘Ta là thường hằng, ta là vĩnh cửu’?”
Atha kho bhagavā taṁ brahmānaṁ saṁvejetvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—tasmiṁ brahmaloke antarahito jetavane pāturahosi.
Atha kho so brahmā aññataraṁ brahmapārisajjaṁ āmantesi: “ehi tvaṁ, mārisa, yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ evaṁ vadehi: ‘atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṁ moggallāno kassapo kappino anuruddho’”ti?
“Evaṁ, mārisā”ti kho so brahmapārisajjo tassa brahmuno paṭissutvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca: “atthi nu kho, mārisa moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṁmahiddhikā evaṁmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṁ moggallāno kassapo kappino anuruddho”ti?
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṁ brahmapārisajjaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Having inspired a sense of awe in the Divinity, as easily as a strong person would extend or contract their arm, the Buddha vanished from the realm of divinity and reappeared in Jeta’s Grove.
Then that divinity addressed a member of his retinue, “Please, good fellow, go up to Venerable Mahāmoggallāna and say to him: ‘Moggallāna my good fellow, are there any other disciples of the Buddha who have power and might comparable to the worthies Moggallāna, Kassapa, Kappina, and Anuruddha?’”
“Yes, good fellow,” replied that retinue member. He went to Moggallāna and asked as instructed.
Then Mahāmoggallāna addressed that member of the retinue of Divinity in verse:
Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi làm cho vị Phạm thiên ấy xúc động, ví như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, ngài biến mất khỏi cõi Phạm thiên ấy và hiện ra ở Jetavana. Bấy giờ, vị Phạm thiên ấy gọi một vị Phạm chúng thiên và nói: ‘Này hiền giả, hãy đến đây, hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, hãy nói với Tôn giả Mahāmoggallāna như sau: “Thưa hiền giả Moggallāna, có những vị đệ tử nào khác của Thế Tôn ấy cũng có đại thần lực, đại uy lực như Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina, và Anuruddha không?”’ ‘Vâng, thưa hiền giả,’ vị Phạm chúng thiên ấy vâng lời vị Phạm thiên kia, đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna; sau khi đến, đã nói với Tôn giả Mahāmoggallāna điều này: ‘Thưa hiền giả Moggallāna, có những vị đệ tử nào khác của Thế Tôn ấy cũng có đại thần lực, đại uy lực như Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina, và Anuruddha không?’ Bấy giờ, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với vị Phạm chúng thiên ấy bằng một bài kệ:
“Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā; Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā”ti.
“There are many disciples of the Buddha who have the three knowledges, and have attained psychic power, <j>expert in encompassing minds, they’re perfected ones with defilements ended.”
“Các vị đệ tử của Đức Phật có rất nhiều, là những bậc Tam minh, đã đạt được thần thông, thông thạo về tha tâm thông, các bậc lậu tận, A-la-hán.”
Atha kho so brahmapārisajjo āyasmato mahāmoggallānassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā yena so brahmā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ brahmānaṁ etadavoca: “āyasmā, mārisa, mahāmoggallāno evamāha:
Then that member of the retinue of Divinity, having approved and agreed with what Mahāmoggallāna said, went to that divinity and said to him, “Good fellow, Venerable Mahāmoggallāna said this:
Bấy giờ, vị Phạm chúng thiên ấy, sau khi hoan hỷ, tán thán lời nói của Tôn giả Mahāmoggallāna, đã đi đến chỗ vị Phạm thiên kia; sau khi đến, đã nói với vị Phạm thiên ấy điều này: ‘Thưa hiền giả, Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói như vầy:
‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā; Khīṇāsavā arahanto, bahū buddhassa sāvakā’”ti.
‘There are many disciples of the Buddha who have the three knowledges, and have attained psychic power, <j>expert in encompassing minds, they’re perfected ones with defilements ended.’”
“Các vị đệ tử của đức Phật thì có rất nhiều, là những vị đã thành tựu tam minh, đã đạt được thần thông, thông thạo về tha tâm thông, đã đoạn tận các lậu hoặc, là bậc A-la-hán.”
Idamavoca so brahmapārisajjo. Attamano ca so brahmā tassa brahmapārisajjassa bhāsitaṁ abhinandīti.
That is what that member of the retinue of Divinity said. Satisfied, that divinity approved what the member of his retinue said.
Vị Phạm thiên tùy tùng ấy đã nói lời này. Và vị Phạm thiên ấy, với tâm ý hoan hỷ, đã tán thán lời nói của vị Phạm thiên tùy tùng ấy.