- Saṁyutta Nikāya 6.15
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 6.15 — Kinh Bát-niết-bàn
Parinibbānasutta
S.i,157Vi-n 1 Một thời Thế Tôn ở Kusinàrà, tại Upavattana, trong rừng cây ta-la, giữa dân chúng Mallà, giữa hai cây ta-la song thọ trong khi Ngài nhập Niết-bàn.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên các Ông, hãy tinh tấn, chớ phóng dật. Các pháp hữu vi là vô thường. Ðây là những lời cuối cùng của Như Lai.
Vi-n 3 Rồi Thế Tôn vào định sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ thư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ, Ngài vào Thức vô biên xứ. Ra Thức vô biên xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ. Ra Vô sở hữu xứ, Ngài vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vi-n 4 Ra Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ. Ra Vô sở hữu xứ, Ngài vào Thức vô biên xứ. Ra Thức vô biên xứ, Ngài vào Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ, Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Thế Tôn liền nhập diệt.
Vi-n 5 Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Phạm thiên Brahmà nói lên bài kệ:
Mọi sinh vật ở đời,
Tử bỏ thân năm uẩn,
Bậc Ðạo Sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt Luân trên đời,
Như Lai, đấng Hùng Lực,
Bậc Giác Ngộ nhập diệt.
Vi-n 6 Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Thiên chủ Sakha nói lên bài kệ:
Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Tịnh chỉ chúng, an lạc.
Vi-n 7 Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Tôn giả Ānanda nói lên bài kệ:
Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật lông tóc dựng ngược,
Bậc Thắng Tướng đầy đủ,
Bậc Giác Ngộ nhập diệt.
Vi-n 8 Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đa) nói lên bài kệ:
Không thở ra, thở vào,
Tâm trú vào chánh định,
Không tham ái, tịch tịnh,
Bậc Biến Nhãn diệt độ.
Với tâm an, bất động,
Ngài cảm thọ lâm chung,
Như đèn sáng chợt tắt,
Tâm giải thoát Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 6.15
- Chapter Two
Full Extinguishment
5. Kinh Bát-niết-bàn
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ parinibbānasamaye.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo: ‘vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādethā’”ti.
Ayaṁ tathāgatassa pacchimā vācā.
At one time the Buddha was staying between a pair of sal trees in the sal forest of the Mallas at Upavattana near Kusinārā at the time of his full extinguishment.
Then the Buddha said to the mendicants: “Come now, mendicants, I say to you all: ‘Conditions fall apart. Persist with diligence.’”
These were the Realized One’s last words.
186. Một thời, Thế Tôn trú ở Kusinārā, tại khu rừng Sāla của dòng họ Malla, ở Upavattana, giữa hai cây Sāla song đôi, vào lúc sắp Bát-niết-bàn. Khi ấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, nay Ta nói với các ông: Các pháp hữu vi có tính chất biến hoại, hãy nỗ lực với sự không phóng dật.’ Đây là lời cuối cùng của Như Lai.
Atha kho bhagavā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji. Paṭhamā jhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Dutiyā jhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Tatiyā jhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji. Catutthā jhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji. Ākāsānañcāyatanā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji. Viññāṇañcāyatanā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji. Ākiñcaññāyatanā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji. Nevasaññānāsaññāyatanā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṁ samāpajji.
Then the Buddha entered the first absorption. Emerging from that, he entered the second absorption. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the third absorption, the fourth absorption, the dimension of infinite space, the dimension of infinite consciousness, the dimension of nothingness, and the dimension of neither perception nor non-perception. Then he entered the cessation of perception and feeling.
Khi ấy, Thế Tôn nhập Sơ thiền. Xuất khỏi Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất khỏi Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất khỏi Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất khỏi Tứ thiền, Ngài nhập Không Vô Biên Xứ. Xuất khỏi Không Vô Biên Xứ, Ngài nhập Thức Vô Biên Xứ. Xuất khỏi Thức Vô Biên Xứ, Ngài nhập Vô Sở Hữu Xứ. Xuất khỏi Vô Sở Hữu Xứ, Ngài nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Xuất khỏi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài nhập Diệt Thọ Tưởng Định.
Saññāvedayitanirodhā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji. Nevasaññānāsaññāyatanā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji. Ākiñcaññāyatanā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji. Viññāṇañcāyatanā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji. Ākāsānañcāyatanā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji. Catutthā jhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Tatiyā jhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Dutiyā jhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji. Paṭhamā jhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Dutiyā jhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji. Tatiyā jhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji. Catutthā jhānā vuṭṭhahitvā samanantaraṁ bhagavā parinibbāyi.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā brahmā sahampati imaṁ gāthaṁ abhāsi:
Then he emerged from the cessation of perception and feeling and entered the dimension of neither perception nor non-perception. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the dimension of nothingness, the dimension of infinite consciousness, the dimension of infinite space, the fourth absorption, the third absorption, the second absorption, and the first absorption. Emerging from that, he successively entered into and emerged from the second absorption and the third absorption. Then he entered the fourth absorption. Emerging from that the Buddha immediately became fully extinguished.
When the Buddha was fully quenched, along with the full extinguishment, the divinity Sahampati spoke this verse:
Xuất khỏi Diệt Thọ Tưởng Định, Ngài nhập Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Xuất khỏi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, Ngài nhập Vô Sở Hữu Xứ. Xuất khỏi Vô Sở Hữu Xứ, Ngài nhập Thức Vô Biên Xứ. Xuất khỏi Thức Vô Biên Xứ, Ngài nhập Không Vô Biên Xứ. Xuất khỏi Không Vô Biên Xứ, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất khỏi Tứ thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất khỏi Tam thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất khỏi Nhị thiền, Ngài nhập Sơ thiền. Xuất khỏi Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất khỏi Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất khỏi Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Ngay sau khi xuất khỏi Tứ thiền, Thế Tôn Bát-niết-bàn. Khi Thế Tôn Bát-niết-bàn, cùng lúc với sự Bát-niết-bàn, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này:
“Sabbeva nikkhipissanti, bhūtā loke samussayaṁ; Yattha etādiso satthā, loke appaṭipuggalo; Tathāgato balappatto, sambuddho parinibbuto”ti.
“All creatures in this world must lay down this bag of bones. For even a Teacher such as this, unrivaled in the world, the Realized One, attained to power, the Buddha was fully quenched.”
“Tất cả chúng sanh trong đời, đều sẽ từ bỏ thân thể; khi mà bậc Đạo Sư như vậy, không ai sánh bằng ở trên đời; bậc Như Lai, thành tựu các lực, bậc Chánh Đẳng Giác, đã Bát-niết-bàn.”
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Sakka, lord of gods, spoke this verse:
Khi Thế Tôn Bát-niết-bàn, cùng lúc với sự Bát-niết-bàn, Sakka, vua của các vị trời, nói lên bài kệ này:
“Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino; Uppajjitvā nirujjhanti, tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
“Oh! Conditions are impermanent, their nature is to rise and fall; having arisen, they cease; their settling is such bliss.”
“Các pháp hữu vi quả là vô thường, có sanh ắt có diệt; đã sanh ra rồi thì phải diệt đi, sự tịch tịnh của chúng là an lạc.”
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā ānando imaṁ gāthaṁ abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Venerable Ānanda spoke this verse:
Khi Thế Tôn Bát-niết-bàn, cùng lúc với sự Bát-niết-bàn, Tôn giả Ānanda nói lên bài kệ này:
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ, tadāsi lomahaṁsanaṁ; Sabbākāravarūpete, sambuddhe parinibbute”ti.
“Then there was terror! Then they had goosebumps! When the Buddha, endowed with all fine qualities, was fully quenched.”
“Khi ấy thật là kinh hoàng, khi ấy thật là rợn tóc gáy; khi bậc Chánh Đẳng Giác, người đầy đủ mọi đức tánh cao quý, đã Bát-niết-bàn.”
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā anuruddho imā gāthāyo abhāsi:
When the Buddha was fully quenched, Venerable Anuruddha spoke this verse:
Khi Thế Tôn Bát-niết-bàn, cùng lúc với sự Bát-niết-bàn, Tôn giả Anuruddha nói lên những bài kệ này:
“Nāhu assāsapassāso, ṭhitacittassa tādino; Anejo santimārabbha, cakkhumā parinibbuto.
“There was no more breathing for the unaffected one of steady heart. Imperturbable, committed to peace, the Clear-eyed One was fully quenched.
“Không còn hơi thở ra vào, của người có tâm vững trú, bậc như vậy; không còn dao động, hướng đến tịch tịnh, bậc có mắt tuệ đã Bát-niết-bàn.”
Asallīnena cittena, vedanaṁ ajjhavāsayi; Pajjotasseva nibbānaṁ, vimokkho cetaso ahū”ti.
Dutiyo vaggo.
Tassuddānaṁ
He put up with painful feelings without flinching. The liberation of his heart was like the extinguishing of a lamp.”
“Với tâm không co rút, Ngài đã chịu đựng cảm thọ; như ngọn đèn đã tắt, sự giải thoát của tâm đã xảy ra.”
Brahmāsanaṁ devadatto, Andhakavindo aruṇavatī; Parinibbānena ca desitaṁ, Idaṁ brahmapañcakanti.
Brahmā, Devadatta, Andhakavinda, Aruṇavatī; và Parinibbāna đã được thuyết giảng, đây là năm kinh về Phạm thiên.
Brahmasaṁyuttaṁ samattaṁ.
The Linked Discourses on the Divinity are complete.
Tương Ưng Phạm Thiên đã hoàn tất.