- Saṁyutta Nikāya 6.14
- 2. Dutiyavagga
Aruṇavatīsutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Aruṇavatīsutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi…, …
Vi-n 2 Ở đấy, Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo.
Vi-n 3 —Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Vi-n 4 Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 5 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Arunavà. Này các Tỷ-kheo, kinh đô vua Arunavà này tên là Arunavati. Này các Tỷ-kheo, gần kinh đô Arunavati, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác an trú.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử xuất chúng, thượng túc, tên là Abhibhu và Sambhava.
Vi-n 7 Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi Tỷ-kheo Abhibhu:
“ —Này Bà-la-môn, chúng ta hãy đi đến một Phạm thiên giới cho đến thời dùng bữa ăn”.
Vi-n 8 “—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Vi-n 9 Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, hai vị biến mất ở kinh đô Arunavati và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.
Vi-n 10 Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Chánh Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:
“ —Này Bà-la-môn, hãy nói bài pháp cho Phạm thiên này, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên”.
Vi-n 11 “—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”
Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, tuyên thuyết bài pháp cho Phạm thiên ấy, cho Phạm phụ thiên và cho Phạm chúng thiên, khích lệ, làm họ phấn khởi, làm họ hoan hỷ.
Vi-n 12 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối và nói rằng: “Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?”.
Vi-n 13 Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:
“—Này Bà-la-môn, Phạm thiên, Phạm thụ thiên, và Phạm chúng thiên ấy cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối, nói rằng: ‘Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?’ Vậy này Bà-la-môn, hãy làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên càng dao động bội phần hơn nữa”.
Vi-n 14 “—Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hiện thân thuyết pháp, tàng thân thuyết pháp, hiện nửa thân dưới không hiện nửa thân trên thuyết pháp, hiện nửa thân trên không hiện nửa thân giữa thuyết pháp.
Vi-n 15 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên, tâm khởi lên hy hữu, kỳ diệu nói rằng: “Thật là hy hữu, thật là kỳ diệu, đại thần lực và đại uy lực của vị Sa-môn”.
Vi-n 16 Rồi Tỷ-kheo Abhibhu bạch Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
“—Bạch Thế Tôn, con xác nhận với lời nói này giữa chúng Tỷ-kheo Tăng: “Ðứng ở Phạm thiên giới, con có thể khiến cho ngàn thế giới nghe được tiếng của con.”
Vi-n 17 “—Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, Ông hãy đứng ở Phạm thiên giới và làm cho ngàn thế giới nghe được tiếng nói của ông”.
Vi-n 18 “—Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đứng ở Phạm thiên giới và nói lên bài kệ này:
“Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo,
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
An trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau”.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, sau khi làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên dao động, như người lực sĩ…, … biến mất ở Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Arunavati.
Vi-n 20 Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các vị Tỷ-kheo:
“—Này các Tỷ kheo, các Ông có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, nói lên không?”.
Vi-n 21 “—Bạch Thế Tôn, chúng con có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên.”
Vi-n 22 “—Này các Tỷ-kheo, như thế nào các ông nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng lên tại Phạm thiên giới đã nói lên?”
Vi-n 23 “—Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:
Hãy đứng dậy, lên đường,
Hãy dấn thân Phật giáo.
Hãy đánh bại Ma quân,
Như voi phá chòi lá.
Ai trong pháp luật này,
Ai trú không phóng dật,
Ðoạn tận vòng sống chết,
Sẽ chấm dứt khổ đau.
Vi-n 24 Như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên.”
Vi-n 25 “—Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo. Lành thay, này các Tỷ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên”.
Vi-n 26 Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
4. Kinh Aruṇavatī
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
185. Tôi nghe như vầy – một thời Thế Tôn ở Sāvatthī... ...Lúc ấy, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu: “Này các Tỳ khưu”. “Bạch Thế Tôn”, các Tỳ khưu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, rājā ahosi aruṇavā nāma. Rañño kho pana, bhikkhave, aruṇavato aruṇavatī nāma rājadhānī ahosi. Aruṇavatiṁ kho pana, bhikkhave, rājadhāniṁ sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi. Sikhissa kho pana, bhikkhave, bhagavato arahato sammāsambuddhassa abhibhūsambhavaṁ nāma sāvakayugaṁ ahosi aggaṁ bhaddayugaṁ.
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho abhibhuṁ bhikkhuṁ āmantesi: ‘āyāma, brāhmaṇa, yena aññataro brahmaloko tenupasaṅkamissāma, yāva bhattassa kālo bhavissatī’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho bhikkhave, abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paccassosi. Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho abhibhū ca bhikkhu—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—aruṇavatiyā rājadhāniyā antarahitā tasmiṁ brahmaloke pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho abhibhuṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“Once upon a time, mendicants, there was a king named Aruṇavā. He had a capital named Aruṇavatī. Sikhī the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha lived supported by Aruṇavatī. Sikhī had a fine pair of chief disciples named Abhibhū and Sambhava.
Then the Buddha Sikhī addressed the mendicant Abhibhū, ‘Come, brahmin, let’s go to one of the realms of divinity until it’s time for our meal.’
‘Yes, sir,’ replied Abhibhū. Then, as easily as a strong person would extend or contract their arm, they vanished from Aruṇavatī and appeared in that realm of divinity.
Then the Buddha Sikhī addressed the mendicant Abhibhū,
“Này các Tỳ khưu, thuở xưa có vị vua tên là Aruṇavā. Này các Tỳ khưu, kinh đô của vua Aruṇavā tên là Aruṇavatī. Này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã trú ngụ gần kinh đô Aruṇavatī. Này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác có một cặp đệ tử Thượng thủ, một cặp tốt lành, tên là Abhibhū và Sambhava. Rồi, này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi Tỳ khưu Abhibhū: ‘Này Bà-la-môn, chúng ta hãy đi, chúng ta sẽ đến một cõi Phạm thiên nào đó, cho đến khi đến giờ dùng bữa’. ‘Vâng, bạch Thế Tôn’, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Abhibhū vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Rồi, này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác và Tỳ khưu Abhibhū, cũng như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy, biến mất khỏi kinh đô Aruṇavatī và hiện ra ở cõi Phạm thiên ấy.”
‘Evaṁ, bhante’ti kho, bhikkhave, abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭissutvā, brahmānañca brahmaparisañca brahmapārisajje ca dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca ujjhāyanti khiyyanti vipācenti: ‘acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata bho, kathañhi nāma satthari sammukhībhūte sāvako dhammaṁ desessatī’ti.
‘Yes, sir,’ replied Abhibhū. Then he educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
But the Divinity, his assembly, and his retinue complained, grumbled, and objected, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! How on earth can a disciple teach Dhamma in the presence of the Teacher?’
“Rồi, này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi Tỳ khưu Abhibhū: ‘Này Bà-la-môn, hãy để pháp thoại khởi lên trong ông cho Phạm thiên, cho chúng Phạm thiên, và cho tùy tùng của Phạm thiên’. ‘Vâng, bạch Thế Tôn’, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Abhibhū vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, rồi chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên bằng pháp thoại. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên phàn nàn, chê bai, chỉ trích: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa quý vị! Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Làm sao mà một vị đệ tử lại thuyết pháp trước sự hiện diện của bậc Đạo sư!’”
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho abhibhuṁ bhikkhuṁ āmantesi: ‘ujjhāyanti kho te, brāhmaṇa, brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca—acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, kathañhi nāma satthari sammukhībhūte sāvako dhammaṁ desessatīti. Tena hi tvaṁ, brāhmaṇa, bhiyyoso mattāya brahmānañca brahmaparisañca brahmapārisajje ca saṁvejehī’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho, bhikkhave, abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭissutvā dissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi, adissamānenapi kāyena dhammaṁ desesi, dissamānenapi heṭṭhimena upaḍḍhakāyena adissamānena uparimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi, dissamānenapi uparimena upaḍḍhakāyena adissamānena heṭṭhimena upaḍḍhakāyena dhammaṁ desesi.
Tatra sudaṁ, bhikkhave, brahmā ca brahmaparisā ca brahmapārisajjā ca acchariyabbhutacittajātā ahesuṁ: ‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā’ti.
Then the Buddha Sikhī addressed the mendicant Abhibhū, ‘Brahmin, the Divinity, his assembly, and his retinue are complaining that a disciple teaches Dhamma in the presence of the Teacher. Well then, brahmin, stir them up even more!’
‘Yes, sir,’ replied Abhibhū. Then he taught Dhamma with his body visible; with his body invisible; with the lower half visible and the upper half invisible; and with the upper half visible and the lower half invisible.
And the Divinity, his assembly, and his retinue, their minds full of wonder and amazement, thought, ‘Oh lord, how incredible, how amazing! The ascetic has such psychic power and might!’
“Rồi, này các Tỳ khưu, Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác gọi Tỳ khưu Abhibhū: ‘Này Bà-la-môn, Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên đang phàn nàn về ông: “Thật kỳ diệu thay, thưa quý vị! Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Làm sao mà một vị đệ tử lại thuyết pháp trước sự hiện diện của bậc Đạo sư!”. Vậy thì, này Bà-la-môn, ông hãy làm cho Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên kinh cảm hơn nữa’. ‘Vâng, bạch Thế Tôn’, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Abhibhū vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, rồi thuyết pháp với thân hữu hình, thuyết pháp với thân vô hình, thuyết pháp với nửa thân dưới hữu hình và nửa thân trên vô hình, thuyết pháp với nửa thân trên hữu hình và nửa thân dưới vô hình. Bấy giờ, này các Tỳ khưu, Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên sanh tâm kỳ diệu, hy hữu: ‘Thật kỳ diệu thay, thưa quý vị! Thật hy hữu thay, thưa quý vị! Vị Sa-môn thật có đại thần lực, đại oai lực!’”
Atha kho abhibhū bhikkhu sikhiṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca: ‘abhijānāmi khvāhaṁ, bhante, bhikkhusaṅghassa majjhe evarūpiṁ vācaṁ bhāsitā—pahomi khvāhaṁ, āvuso, brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpetun’ti.
‘Etassa, brāhmaṇa, kālo, etassa, brāhmaṇa, kālo; yaṁ tvaṁ, brāhmaṇa, brahmaloke ṭhito sahassilokadhātuṁ sarena viññāpeyyāsī’ti.
‘Evaṁ, bhante’ti kho, bhikkhave, abhibhū bhikkhu sikhissa bhagavato arahato sammāsambuddhassa paṭissutvā brahmaloke ṭhito imā gāthāyo abhāsi:
‘Ārambhatha nikkamatha, Yuñjatha buddhasāsane; Dhunātha maccuno senaṁ, Naḷāgāraṁva kuñjaro.
Yo imasmiṁ dhammavinaye, appamatto vihassati; Pahāya jātisaṁsāraṁ, dukkhassantaṁ karissatī’ti.
Then Abhibhū said to the Buddha Sikhī, ‘Sir, I recall having said this in the middle of the Saṅgha: “Standing in the realm of divinity, I can make my voice heard throughout the thousandfold galaxy.”’
‘Now is the time, brahmin! Now is the time, brahmin! Standing in the realm of divinity, make your voice heard throughout the thousandfold galaxy.’
‘Yes, sir,’ replied Abhibhū. Standing in the realm of divinity, he spoke this verse:
‘Rouse yourselves! Try harder! Devote yourselves to the teachings of the Buddha! Crush the army of Death, as an elephant a hut of reeds.
Whoever shall meditate diligently in this teaching and training, giving up transmigration through rebirths, will make an end of suffering.’
“Rồi Tỳ khưu Abhibhū bạch với Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác: ‘Bạch Thế Tôn, con nhớ là đã từng nói lời này giữa chúng Tỳ khưu: “Thưa các Hiền giả, khi đang ở tại cõi Phạm thiên, tôi có thể làm cho tiếng của mình vang đến một ngàn thế giới”’. ‘Này Bà-la-môn, đây là lúc, này Bà-la-môn, đây là lúc để ông, khi đang ở tại cõi Phạm thiên, làm cho tiếng của mình vang đến một ngàn thế giới.’ ‘Vâng, bạch Thế Tôn’, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu Abhibhū vâng đáp Thế Tôn Sikhī, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, rồi đứng tại cõi Phạm thiên, nói lên những câu kệ này:”
Atha kho, bhikkhave, sikhī ca bhagavā arahaṁ sammāsambuddho abhibhū ca bhikkhu brahmānañca brahmaparisañca brahmapārisajje ca saṁvejetvā—seyyathāpi nāma …pe… tasmiṁ brahmaloke antarahitā aruṇavatiyā rājadhāniyā pāturahesuṁ.
Atha kho, bhikkhave, sikhī bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bhikkhū āmantesi: ‘assuttha no tumhe, bhikkhave, abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassā’ti?
‘Assumha kho mayaṁ, bhante, abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassā’ti.
‘Yathā kathaṁ pana tumhe, bhikkhave, assuttha abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassā’ti?
Evaṁ kho mayaṁ, bhante, assumha abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassa:
Having inspired that divinity, his assembly, and his retinue with a sense of awe, as easily as a strong person would extend or contract their arm, Sikhī and Abhibhū vanished from that realm of divinity and appeared in Aruṇavatī.
Then the Buddha Sikhī addressed the mendicants, ‘Mendicants, did you hear the mendicant Abhibhū speaking a verse while standing in a realm of divinity?’
‘We did, sir.’
‘But what exactly did you hear?’
‘This is what we heard, sir:
“Này các Tỳ khưu, khi ấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Sikhī và Tỳ khưu Abhibhū, sau khi làm cho Phạm thiên, chúng Phạm thiên, và tùy tùng của Phạm thiên kinh cảm, ... như thể ... đã biến mất khỏi cõi Phạm thiên ấy và hiện ra ở kinh thành Aruṇavatī. Này các Tỳ khưu, khi ấy, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác Sikhī gọi các Tỳ khưu: ‘Này các Tỳ khưu, các ông có nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ không?’ ‘Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ.’ ‘Này các Tỳ khưu, các ông đã nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ như thế nào?’ ‘Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ như sau:’”
‘Ārambhatha nikkamatha, yuñjatha buddhasāsane; Dhunātha maccuno senaṁ, naḷāgāraṁva kuñjaro.
“Rouse yourselves! Try harder! Devote yourselves to the teachings of the Buddha! Crush the army of Death, as an elephant a hut of reeds.
“Hãy khởi sự, hãy xuất ly, hãy nỗ lực trong giáo pháp của đức Phật; hãy phá tan quân đội của tử thần, như voi phá tan ngôi nhà bằng sậy.”
Yo imasmiṁ dhammavinaye, appamatto vihassati; Pahāya jātisaṁsāraṁ, dukkhassantaṁ karissatī’ti.
Whoever shall meditate diligently in this teaching and training, giving up transmigration through rebirths, will make an end of suffering.”
“Vị nào trong Pháp và Luật này, sống không phóng dật; sẽ từ bỏ vòng luân hồi sinh tử, và chấm dứt khổ đau.”
‘Evaṁ kho mayaṁ, bhante, assumha abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassā’ti.
‘Sādhu sādhu, bhikkhave; sādhu kho tumhe, bhikkhave, assuttha abhibhussa bhikkhuno brahmaloke ṭhitassa gāthāyo bhāsamānassā’”ti.
That’s what we heard, sir.’
‘Good, good, mendicants! It’s good that you heard the mendicant Abhibhū speaking this verse while standing in a realm of divinity.’”
“‘Bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ như vậy.’ ‘Lành thay, lành thay, này các Tỳ khưu! Lành thay, này các Tỳ khưu, các ông đã nghe Tỳ khưu Abhibhū, trong khi đang ở tại cõi Phạm thiên, nói lên những bài kệ.’”
Idamavoca bhagavā, attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
That is what the Buddha said. Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỳ khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.