- Saṁyutta Nikāya 56.54
- 6. Abhisamayavagga
Bản dịch
SN 56.54 — Kinh Hợp Lưu thứ hai
Dutiyasambhejjasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Ví như, này các Tỷ-kheo, tại chỗ mà các con sông lớn này nhập vào nhau, cùng chảy với nhau, tức là sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatii, sông Sarabhuu, sông Mahii, nước sông ấy đi đến đoạn tận, đi đến tiêu diệt, trừ hai hay ba giọt nước còn sót lại.
Vi-n 3 Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, hay là hai hay ba giọt nước còn sót lại?
—Cái này là nhiều hơn bạch Thế Tôn, tức là nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt. Còn ít hơn là hai hay ba giọt nước còn sót lại. Chúng không có thể ước tính được, không có thể so sánh được, không có thể thành một phần nhỏ được, nếu đem so sánh nước chỗ hợp dòng đã đi đến đoạn tận, đã đi đến tiêu diệt, với hai hay ba giọt nước còn sót lại.
Vi-n 4-5. … (như đoạn số 4,5, kinh 49) …
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.54
- 6. Comprehension
Where the Waters Join Together (2nd)
4. Kinh Hợp Lưu thứ hai.
“Seyyathāpi, bhikkhave, yatthimā mahānadiyo saṁsandanti samenti, seyyathidaṁ—gaṅgā, yamunā, aciravatī, sarabhū, mahī, taṁ udakaṁ parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, ṭhapetvā dve vā tīṇi vā udakaphusitāni.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ—yaṁ vā saṁbhejjaudakaṁ parikkhīṇaṁ pariyādinnaṁ, yāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhānī”ti?
“Etadeva, bhante, bahutaraṁ saṁbhejjaudakaṁ yadidaṁ parikkhīṇaṁ pariyādinnaṁ; appamattakāni dve vā tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhāni. Saṅkhampi na upenti, upanidhampi na upenti, kalabhāgampi na upenti saṁbhejjaudakaṁ parikkhīṇaṁ pariyādinnaṁ upanidhāya dve vā tīṇi vā udakaphusitāni avasiṭṭhānī”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, ariyasāvakassa …pe…
yogo karaṇīyo”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, there are places where the great rivers—the Ganges, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, and Mahī—join together and converge. Suppose that water dried up and evaporated except two or three drops.
What do you think, mendicants? Which is more: the water in the confluence that has dried up and evaporated, or the two or three drops left?”
“Sir, the water in the confluence that has dried up and evaporated is certainly more. The two or three drops left are tiny. Compared to the water in the confluence that has dried up and evaporated, it doesn’t count, there’s no comparison, it’s not worth a fraction.”
“In the same way, for a noble disciple …
That’s why you should practice meditation …”
1124. “Này các Tỷ kheo, ví như tại nơi các con sông lớn này chảy hợp lại với nhau, tức là sông Gaṅgā, Yamunā, Aciravatī, Sarabhū, Mahī, nước ấy bị cạn kiệt, tiêu đi hết, ngoại trừ hai hoặc ba giọt nước. Này các Tỷ kheo, các ông nghĩ thế nào, cái nào nhiều hơn – nước ở nơi hợp lưu đã bị cạn kiệt, tiêu đi hết, hay là hai hoặc ba giọt nước còn sót lại?” “Bạch Thế Tôn, chính nước ở nơi hợp lưu đã bị cạn kiệt, tiêu đi hết này là nhiều hơn; hai hoặc ba giọt nước còn sót lại thì quá ít ỏi. So với nước ở nơi hợp lưu đã bị cạn kiệt, tiêu đi hết, hai hoặc ba giọt nước còn sót lại không đáng để đếm, không đáng để so sánh, không đáng một phần nhỏ.” “Cũng vậy, này các Tỷ kheo, đối với vị Thánh đệ tử… cần phải nỗ lực.” Kinh thứ tư.