- Saṁyutta Nikāya 56.46
- 5. Papātavagga
Bản dịch
SN 56.46 — Kinh Bóng Tối (Andhakāra)
Andhakārasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.
Vi-n 3 Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
—Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.
—Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?
Vi-n 4-6. … (như đoạn số 4, số 5, số 6 kinh 42 có một thay đổi. Trong kinh trước có nói: “Họ rơi vào vực thẳm sanh, vực thẳm già, vực thẳm chết, vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn kinh này thời nói: ” Họ rơi vào tối tăm sanh, tối tăm già, tối tăm chết, tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não ” ).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.46
- 5. A Cliff
Darkness
6. Kinh Bóng Tối (Andhakāra)
“Atthi, bhikkhave, lokantarikā aghā asaṁvutā andhakārā andhakāratimisā, yatthamimesaṁ candimasūriyānaṁ evaṁmahiddhikānaṁ evaṁ mahānubhāvānaṁ ābhāya nānubhontī”ti.
“Mendicants, the boundless gloom of interstellar space is so utterly dark that even the luminosity of the moon and the sun, so mighty and powerful, makes no impression.”
1116. “Này các Tỳ khưu, có những địa ngục giữa các thế giới, khổ đau, trống rỗng, tối tăm, mịt mù trong bóng tối, nơi mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, dù có đại thần lực, đại oai lực như vậy, cũng không thể chiếu tới.”
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “mahā vata so, bhante, andhakāro, sumahā vata so, bhante, andhakāro. Atthi nu kho, bhante, etamhā andhakārā añño andhakāro mahantataro ca bhayānakataro cā”ti?
“Atthi kho, bhikkhu, etamhā andhakārā añño andhakāro mahantataro ca bhayānakataro cā”ti.
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “Sir, that darkness really is mighty, so very mighty. Is there any other darkness more mighty and terrifying than this one?”
“There is, mendicant.”
Khi được nói vậy, một Tỳ khưu bạch với Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, bóng tối ấy thật vĩ đại thay! Bạch Thế Tôn, bóng tối ấy thật vô cùng vĩ đại thay! Bạch Thế Tôn, có hay không một bóng tối khác còn vĩ đại hơn và đáng sợ hơn bóng tối ấy?’. ‘Có đấy, này Tỳ khưu, có một bóng tối khác còn vĩ đại hơn và đáng sợ hơn bóng tối ấy’.”
“Katamo pana, bhante, etamhā andhakārā añño andhakāro mahantataro ca bhayānakataro cā”ti?
“Ye hi keci, bhikkhu, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ nappajānanti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ nappajānanti, te jātisaṁvattanikesu saṅkhāresu abhiramanti …pe… abhiratā …pe… abhisaṅkharonti …pe… abhisaṅkharitvā jātandhakārampi papatanti, jarandhakārampi papatanti, maraṇandhakārampi papatanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsandhakārampi papatanti. Te na parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Na parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
“But sir, what is it?”
“There are ascetics and brahmins who don’t truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They take pleasure in choices that lead to rebirth … They continue to make such choices … Having made such choices, they fall into the darkness of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re not freed from suffering, I say.
“Bạch Thế Tôn, bóng tối nào khác lớn hơn và đáng sợ hơn bóng tối này?” “Này Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết như thật: ‘Đây là khổ’, ... cho đến ... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’, họ vui thích trong các hành đưa đến tái sanh, ... cho đến ... vì vui thích ... cho đến ... họ tạo tác ... cho đến ... sau khi đã tạo tác, họ rơi vào bóng tối của sanh, họ rơi vào bóng tối của già, họ rơi vào bóng tối của chết, họ rơi vào bóng tối của sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Họ không được giải thoát khỏi khổ’.”
Ye ca kho keci, bhikkhu, samaṇā vā brāhmaṇā vā ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānanti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānanti, te jātisaṁvattanikesu saṅkhāresu nābhiramanti …pe… anabhiratā …pe… nābhisaṅkharonti …pe… anabhisaṅkharitvā jātandhakārampi nappapatanti, jarandhakārampi nappapatanti, maraṇandhakārampi nappapatanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsandhakārampi nappapatanti. Te parimuccanti jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi. ‘Parimuccanti dukkhasmā’ti vadāmi.
There are ascetics and brahmins who truly understand about suffering, its origin, its cessation, and the path. They don’t take pleasure in choices that lead to rebirth … They stop making such choices … Having stopped making such choices, they don’t fall into the darkness of rebirth, old age, and death, of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from rebirth, old age, and death, from sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They’re freed from suffering, I say.
“Này Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết như thật: ‘Đây là khổ’, ... cho đến ... ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’, họ không vui thích trong các hành đưa đến tái sanh, ... cho đến ... vì không vui thích ... cho đến ... họ không tạo tác ... cho đến ... sau khi không tạo tác, họ không rơi vào bóng tối của sanh, họ không rơi vào bóng tối của già, họ không rơi vào bóng tối của chết, họ không rơi vào bóng tối của sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng: ‘Họ được giải thoát khỏi khổ’.”
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
That’s why you should practice meditation …”
“Vì vậy, này các Tỳ khưu, cần phải nỗ lực: ‘Đây là khổ’, ... cho đến ... cần phải nỗ lực: ‘Đây là con đường đưa đến sự diệt khổ’.” (Kinh) thứ sáu.