- Saṁyutta Nikāya 56.38
- 4. Sīsapāvanavagga
Bản dịch
SN 56.38 — Kinh Mặt Trời Thứ Hai
Dutiyasūriyasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám, không thể phân biệt đêm và ngày, không thể phân biệt tháng và nửa tháng, không thể phân biệt thời tiết hằng năm.
Vi-n 3 Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, mặt trăng, mặt trời hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn hiện hữu. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Và có sự phân biệt đêm ngày, có sự phân biệt tháng và nửa tháng, có sự phân biệt thời tiết hằng năm.
Vi-n 4 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, không có ánh sáng lớn, không có hào quang lớn. Khi ấy chỉ có đêm tối, chỉ có u ám. Cho đến khi ấy, không có sự tuyên bố, không có sự thuyết giảng, không có sự trình bày, không có sự thiết lập, không có sự khai diễn, không có sự phân tích, không có sự hiển thị bốn Thánh đế.
Vi-n 5 Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hiện ra ở đời, cho đến khi ấy, có ánh sáng lớn, có hào quang lớn. Khi ấy không có đêm tối, không có u ám. Cho đến khi ấy, có sự tuyên bố, có sự thuyết giảng, có sự trình bày, có sự thiết lập, có sự khai diễn, có sự phân tích, có sự hiển thị bốn Thánh đế. Thế nào là bốn?
Vi-n 6 Thánh đế về Khổ … Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt.
Vi-n 7 Do vậy, này các Tỷ-kheo, một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ” … một sự cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 56.38
- 4. In a Rosewood Forest
The Simile of the Sun (2nd)
8. Kinh Mặt Trời Thứ Hai
“Yāvakīvañca, bhikkhave, candimasūriyā loke nuppajjanti, neva tāva mahato ālokassa pātubhāvo hoti mahato obhāsassa. Andhatamaṁ tadā hoti andhakāratimisā. Neva tāva rattindivā paññāyanti, na māsaddhamāsā paññāyanti, na utusaṁvaccharā paññāyanti.
“Mendicants, as long as the moon and the sun don’t arise in the world, no great light or great radiance appears. Darkness prevails then, utter darkness. Day and night aren’t found, nor months and fortnights, nor seasons and years.
1108. “Này các Tỳ khưu, cho đến khi nào mặt trăng và mặt trời chưa xuất hiện trong thế gian, cho đến khi ấy, sự xuất hiện của ánh sáng lớn, của quang minh lớn vẫn chưa có. Khi ấy, chỉ có bóng tối dày đặc, sự u ám mịt mù. Cho đến khi ấy, ngày và đêm vẫn chưa được phân biệt, tháng và nửa tháng vẫn chưa được phân biệt, mùa và năm vẫn chưa được phân biệt.
Yato ca kho, bhikkhave, candimasūriyā loke uppajjanti, atha mahato ālokassa pātubhāvo hoti mahato obhāsassa. Neva andhakāratamaṁ tadā hoti na andhakāratimisā. Atha rattindivā paññāyanti, māsaddhamāsā paññāyanti, utusaṁvaccharā paññāyanti.
Evameva kho, bhikkhave, yāvakīvañca tathāgato loke nuppajjati arahaṁ sammāsambuddho, neva tāva mahato ālokassa pātubhāvo hoti mahato obhāsassa. Andhatamaṁ tadā hoti andhakāratimisā. Neva tāva catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhaṇā hoti desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ.
But when the moon and the sun arise in the world, a great light, a great radiance appears. Darkness no longer prevails. Day and night are found, and months and fortnights, and seasons and years.
In the same way, as long as the Realized One doesn’t arise in the world, no great light or great radiance appears. Darkness prevails then, utter darkness. There’s no explanation of the four noble truths, no teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of them.
“Và này các Tỳ khưu, khi nào mặt trăng và mặt trời xuất hiện trong thế gian, khi ấy có sự xuất hiện của ánh sáng lớn, của quang minh lớn. Khi ấy, không có bóng tối dày đặc, không có sự u ám mịt mù. Khi ấy, ngày và đêm được phân biệt, tháng và nửa tháng được phân biệt, mùa và năm được phân biệt. Cũng thế ấy, này các Tỳ khưu, cho đến khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác chưa xuất hiện trong thế gian, cho đến khi ấy, sự xuất hiện của ánh sáng lớn, của quang minh lớn vẫn chưa có. Khi ấy, chỉ có bóng tối dày đặc, sự u ám mịt mù. Cho đến khi ấy, vẫn chưa có sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự chế định, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về bốn Thánh đế.
Yato ca kho, bhikkhave, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho, atha mahato ālokassa pātubhāvo hoti mahato obhāsassa. Neva andhatamaṁ tadā hoti na andhakāratimisā. Atha kho catunnaṁ ariyasaccānaṁ ācikkhaṇā hoti desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṁ. Katamesaṁ catunnaṁ? Dukkhassa ariyasaccassa …pe… dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ariyasaccassa.
But when the Realized One arises in the world, a great light, a great radiance appears. Darkness no longer prevails. Then there’s the explanation of the four noble truths, the teaching, advocating, establishing, clarifying, analyzing, and revealing of them. What four? The noble truths of suffering, its origin, its cessation, and the path.
“Và này các Tỳ khưu, khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác xuất hiện trong thế gian, khi ấy có sự xuất hiện của ánh sáng lớn, của quang minh lớn. Khi ấy, không có bóng tối dày đặc, không có sự u ám mịt mù. Khi ấy, có sự chỉ dạy, sự thuyết giảng, sự chế định, sự thiết lập, sự khai mở, sự phân tích, sự làm cho hiển lộ về bốn Thánh đế. Về bốn pháp nào? Về Thánh đế về Khổ... cho đến... về Thánh đế về con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘idaṁ dukkhan’ti yogo karaṇīyo …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yogo karaṇīyo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
That’s why you should practice meditation …”
“Do vậy, này các Tỳ khưu, các ngươi nên nỗ lực: ‘Đây là Khổ’... cho đến... các ngươi nên nỗ lực: ‘Đây là con đường thực hành đưa đến sự diệt khổ’.” (Kinh) thứ tám.