- Saṁyutta Nikāya 55.7
- 1. Veḷudvāravagga
Veḷudvāreyyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Veḷudvāreyyasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Veludvàra.
Vi-n 2 Các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ gia tộc họ Thích, đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đã đến Veludvàra”. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: “Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Sau khi chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn, đầy đủ, trong sạch. Tốt lành thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”
Vi-n 3 Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có ước vọng như thế này, có ước muốn như thế này, có chú tâm (adhippàya) như thế này: “Mong rằng chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con! Mong chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi! Mong rằng chúng tôi được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp! Mong rằng chúng tôi được sử dụng vàng và bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong rằng chúng tôi được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này!” Mong rằng Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có ước vọng như vậy, có ước muốn như vậy, có chú tâm như vậy. Hãy thuyết pháp như thế nào để chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, để chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kāsi … để chúng tôi, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Vi-n 5 —Vậy này các Gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các Ông một pháp môn đưa đến lợi ích (tự lợi cho tự ngã) (attuupanàyikam). Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
Các Bà-la-môn ở Veludvàra vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Gia chủ, thế nào là pháp môn đưa đến lợi ích cho tự ngã?
Vi-n 6 Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).
Vi-n 7 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 8 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 9 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 10 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 11 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 12 Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: “Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?” Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Vi-n 13 Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc A-la-hán … Phật, Thế Tôn”.
Vi-n 14 … đối với Pháp …
Vi-n 15 … đối với chúng Tăng …
Vi-n 16 Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.
Vi-n 17 Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: “Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Vi-n 18 Ðược nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Làng Cổng Tre (Veḷudvāreyya)
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ veḷudvāraṁ anuppatto. Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’. So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti. So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Bamboo Gate, together with a large Saṅgha of mendicants. He has this good reputation: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others. He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure. It’s good to see such perfected ones.”
1003. Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, Ngài đã đi đến một làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Veḷudvāra. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Veḷudvāra đã nghe rằng: ‘Này quý vị, Sa-môn Gotama, là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích Ca, đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu, đã đến Veḷudvāra. Tiếng đồn tốt đẹp như vầy đã vang lên về Tôn giả Gotama: ‘Đức Thế Tôn là như vậy: Ngài là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài, sau khi tự mình thắng trí, chứng ngộ, đã tuyên thuyết thế giới này cùng với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người. Ngài thuyết pháp toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ngài tuyên dương phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch’. Thật tốt đẹp thay được yết kiến các bậc A-la-hán như vậy.”
Atha kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“mayaṁ, bho gotama, evaṅkāmā evaṁchandā evaṁadhippāyā—puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma, kāsikacandanaṁ paccanubhaveyyāma, mālāgandhavilepanaṁ dhāreyyāma, jātarūparajataṁ sādiyeyyāma, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāma. Tesaṁ no bhavaṁ gotamo amhākaṁ evaṅkāmānaṁ evaṁchandānaṁ evaṁadhippāyānaṁ tathā dhammaṁ desetu yathā mayaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvaseyyāma …pe… sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyāmā”ti.
Then the brahmins and householders of Bamboo Gate went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. Seated to one side they said to the Buddha:
“Worthy Gotama, these are our wishes, desires, and hopes. We wish to live at home with our children; to use sandalwood imported from Kāsi; to wear garlands, fragrance, and makeup; and to accept gold and currency. And when our body breaks up, after death, we wish to be reborn in a good place, a heavenly realm. Given that we have such wishes, may the Buddha teach us the Dhamma so that we may achieve them.”
Rồi các Bà-la-môn và gia chủ ở Veḷudvāra đã đi đến nơi Đức Thế Tôn; sau khi đến, một số người đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người cùng Đức Thế Tôn nói lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ; sau khi trao đổi xong, họ ngồi xuống một bên. Một số người chắp tay hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người xưng tên và họ của mình gần Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người im lặng rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn và gia chủ ở Veḷudvāra bạch với Đức Thế Tôn điều này: ‘Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có những mong muốn, ý muốn, và ý định như vầy: chúng tôi muốn sống trong cảnh gia đình chật chội với con cái, chúng tôi muốn hưởng thụ gỗ đàn hương xứ Kāsī, chúng tôi muốn mang vòng hoa, dùng hương thơm và vật thoa, chúng tôi muốn vui thích với vàng và bạc, và sau khi thân hoại mạng chung, chúng tôi muốn được sanh vào thiện thú, thiên giới. Xin Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có mong muốn, ý muốn, và ý định như vậy, để chúng tôi có thể sống trong cảnh gia đình chật chội với con cái... cho đến... được sanh vào thiện thú, thiên giới.’”
“Attupanāyikaṁ vo, gahapatayo, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
“Householders, I will teach you an explanation of the Dhamma that is relevant for oneself. Listen and apply your mind well, I will speak.”
“Yes, worthy sir,” they replied. The Buddha said this:
“Này các gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các ông một pháp môn có thể tự mình thực hành. Hãy lắng nghe điều đó, hãy khéo tác ý; Ta sẽ nói.” “Thưa vâng, Tôn giả,” các Bà-la-môn và gia chủ ở Veḷudvāra đã vâng đáp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nói điều này:
“Katamo ca, gahapatayo, attupanāyiko dhammapariyāyo?
Idha, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘ahaṁ khosmi jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo. Yo kho maṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana paraṁ jīvitukāmaṁ amaritukāmaṁ sukhakāmaṁ dukkhappaṭikūlaṁ jīvitā voropeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti. So iti paṭisaṅkhāya attanā ca pāṇātipātā paṭivirato hoti, parañca pāṇātipātā veramaṇiyā samādapeti, pāṇātipātā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati. Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“And what is the explanation of the Dhamma that applies to oneself?
It’s when a noble disciple reflects: ‘I want to live and don’t want to die; I want to be happy and recoil from pain. Since this is so, if someone were to take my life, I wouldn’t like that. But others also want to live and don’t want to die; they want to be happy and recoil from pain. So if I were to take the life of someone else, they wouldn’t like that either. The thing that is disliked by me is also disliked by others. Since I dislike this thing, how can I inflict it on someone else?’ Reflecting in this way, they give up killing living creatures themselves. And they encourage others to give up killing living creatures, praising the giving up of killing living creatures. So their bodily behavior is purified in three points.
“Này các gia chủ, pháp môn suy xét từ bản thân là như thế nào? Này các gia chủ, ở đây, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Ta đây muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ đau khổ. Nếu có người nào muốn đoạt mạng sống của ta, là người muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ đau khổ, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta đoạt mạng sống của người khác, là người cũng muốn sống, không muốn chết, muốn được an lạc, ghê sợ đau khổ, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, thì pháp ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, làm sao ta có thể áp đặt điều ấy cho người khác được?’ Vị ấy sau khi suy xét như vậy, tự mình từ bỏ việc sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ việc sát sanh, và tán thán việc từ bỏ sát sanh. Như vậy, thân hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yo kho me adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana parassa adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti. So iti paṭisaṅkhāya attanā ca adinnādānā paṭivirato hoti, parañca adinnādānā veramaṇiyā samādapeti, adinnādānā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati. Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to steal from me, I wouldn’t like that. But if I were to steal from someone else, they wouldn’t like that either. The thing that is disliked by me is also disliked by others. Since I dislike this thing, how can I inflict it on someone else?’ Reflecting in this way, they give up stealing themselves. And they encourage others to give up stealing, praising the giving up of stealing. So their bodily behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào lấy của không cho của ta, với ý định trộm cắp, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta lấy của không cho của người khác, với ý định trộm cắp, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, thì pháp ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, làm sao ta có thể áp đặt điều ấy cho người khác được?’ Vị ấy sau khi suy xét như vậy, tự mình từ bỏ việc lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ việc lấy của không cho, và tán thán việc từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, thân hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yo kho me dāresu cārittaṁ āpajjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana parassa dāresu cārittaṁ āpajjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti. So iti paṭisaṅkhāya attanā ca kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, parañca kāmesumicchācārā veramaṇiyā samādapeti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati. Evamassāyaṁ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to have relations with my wives, I wouldn’t like it. But if I were to have relations with someone else’s wives, he wouldn’t like that either. The thing that is disliked by me is also disliked by others. Since I dislike this thing, how can I inflict it on others?’ Reflecting in this way, they give up sexual misconduct themselves. And they encourage others to give up sexual misconduct, praising the giving up of sexual misconduct. So their bodily behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào có hành vi sai trái với vợ của ta, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta có hành vi sai trái với vợ của người khác, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, thì pháp ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, làm sao ta có thể áp đặt điều ấy cho người khác được?’ Vị ấy sau khi suy xét như vậy, tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, và tán thán việc từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, thân hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yo kho me musāvādena atthaṁ bhañjeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana parassa musāvādena atthaṁ bhañjeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti. So iti paṭisaṅkhāya attanā ca musāvādā paṭivirato hoti, parañca musāvādā veramaṇiyā samādapeti, musāvādā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati. Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to distort my meaning by lying, I wouldn’t like it. But if I were to distort someone else’s meaning by lying, they wouldn’t like it either. The thing that is disliked by me is also disliked by someone else. Since I dislike this thing, how can I inflict it on others?’ Reflecting in this way, they give up lying themselves. And they encourage others to give up lying, praising the giving up of lying. So their verbal behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào dùng lời nói dối để làm tổn hại lợi ích của ta, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta dùng lời nói dối để làm tổn hại lợi ích của người khác, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, thì pháp ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, làm sao ta có thể áp đặt điều ấy cho người khác được?’ Vị ấy sau khi suy xét như vậy, tự mình từ bỏ việc nói dối, khuyến khích người khác từ bỏ việc nói dối, và tán thán việc từ bỏ nói dối. Như vậy, khẩu hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: “yo kho maṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana paraṁ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ …pe… evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to break me up from my friends by backbiting, I wouldn’t like it. But if I were to break someone else from their friends by backbiting, they wouldn’t like it either. …’ So their verbal behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào dùng lời nói đâm thọc để chia rẽ ta với bạn bè, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta dùng lời nói đâm thọc để chia rẽ người khác với bạn bè của họ, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý... vân vân... Như vậy, khẩu hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: “yo kho maṁ pharusāya vācāya samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana paraṁ pharusāya vācāya samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo …pe… evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to attack me with harsh speech, I wouldn’t like it. But if I were to attack someone else with harsh speech, they wouldn’t like it either. …’ So their verbal behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào dùng lời nói thô ác để nói với ta, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta dùng lời nói thô ác để nói với người khác, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào... vân vân... Như vậy, khẩu hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
Puna caparaṁ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘yo kho maṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyya, na metaṁ assa piyaṁ manāpaṁ. Ahañceva kho pana paraṁ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyyaṁ, parassapi taṁ assa appiyaṁ amanāpaṁ. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. Yo kho myāyaṁ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṁ paraṁ tena saṁyojeyyan’ti. So iti paṭisaṅkhāya attanā ca samphappalāpā paṭivirato hoti, parañca samphappalāpā veramaṇiyā samādapeti, samphappalāpā veramaṇiyā ca vaṇṇaṁ bhāsati. Evamassāyaṁ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
Furthermore, a noble disciple reflects: ‘If someone were to annoy me by talking silliness and nonsense, I wouldn’t like it. But if I were to annoy someone else by talking silliness and nonsense, they wouldn’t like it either.’ The thing that is disliked by me is also disliked by another. Since I dislike this thing, how can I inflict it on another?’ Reflecting in this way, they give up talking nonsense themselves. And they encourage others to give up talking nonsense, praising the giving up of talking nonsense. So their verbal behavior is purified in three points.
“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét như sau: ‘Nếu có người nào dùng lời nói vô ích, lời nói phù phiếm để nói với ta, thì điều ấy không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý. Và nếu ta dùng lời nói vô ích, lời nói phù phiếm để nói với người khác, thì điều ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, thì pháp ấy cũng không làm người khác hài lòng, không làm người khác vừa ý. Pháp nào không làm ta hài lòng, không làm ta vừa ý, làm sao ta có thể áp đặt điều ấy cho người khác được?’ Vị ấy sau khi suy xét như vậy, tự mình từ bỏ việc nói lời phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ việc nói lời phù phiếm, và tán thán việc từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, khẩu hạnh của vị ấy được trong sạch ở ba phương diện.
So buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti; dhamme …pe… saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti. ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi …pe… samādhisaṁvattanikehi. Yato kho, gahapatayo, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti imehi catūhi ākaṅkhiyehi ṭhānehi, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
And they have experiential confidence in the Buddha … the teaching … the Saṅgha … And they have the ethical conduct loved by the noble ones … leading to immersion. When a noble disciple possesses these seven good qualities and these four desirable states they may, if they wish, declare of themselves:
“Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với đức Phật: ‘Vì những lý do như vậy, Thế Tôn là bậc A-la-hán, ... là bậc Thiên Nhơn Sư, là bậc Phật, là Thế Tôn.’ Vị ấy thành tựu niềm tin bất động đối với Pháp ... đối với chúng Tăng: ‘Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là những vị diệu hạnh, ... là phước điền vô thượng ở đời.’ Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị sứt mẻ, ... đưa đến định. Này các gia chủ, khi vị Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này và bốn điều đáng mong mỏi này, nếu muốn, vị ấy có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận sanh thú của loài bàng sanh, đoạn tận cảnh giới của loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ đạt đến chánh giác.’”
Evaṁ vutte, veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ: “abhikkantaṁ, bho gotama …pe… ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
Sattamaṁ.
When he had spoken, the brahmins and householders of Bamboo Gate said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! … We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
“Này Ānanda, việc một người đã sanh làm người rồi mệnh chung thì không có gì là lạ. Nếu mỗi khi có người mệnh chung, các ngươi lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này, thì điều ấy sẽ gây phiền nhiễu cho Như Lai. Do đó, này Ānanda, Ta sẽ thuyết giảng một pháp môn tên là Pháp Kính (Tấm Gương Chánh Pháp), nhờ đó vị Thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về mình rằng: ‘Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận sanh thú của loài bàng sanh, đoạn tận cảnh giới của loài ngạ quỷ, đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ đạt đến chánh giác.’”