- Saṁyutta Nikāya 55.52
- 6. Sappaññavagga
Bản dịch
SN 55.52 — Kinh An Cư Mùa Mưa
Vassaṁvutthasutta
Vi-n 1 Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại khu vườn ông Anāthapiṇḍika.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa ở Sāvatthi xong, đi đến Kapilavatthu vì một vài công việc.
Vi-n 3 Các họ Thích ở Kapilavatthu được nghe một Tỷ-kheo, sau khi an cư mùa mưa xong ở Sāvatthi, đã đến Kapilavatthu.
Vi-n 4 Rồi các họ Thích ở Kapilavatthu đi đến Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Các họ Thích ở Kapilavatthu thưa với Tỷ-kheo ấy:
Vi-n 5 —Thưa Tôn giả, Thế Tôn có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
—Này chư Hiền, Thế Tôn có sức khỏe, có khỏe mạnh.
—Thưa Tôn giả, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
—Này chư Hiền, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna có sức khỏe, có khỏe mạnh.
—Thưa Tôn giả, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe không, có khỏe mạnh không?
—Này chư Hiền, chúng Tỷ-kheo có sức khỏe, có khỏe mạnh.
Vi-n 6 —Thưa Tôn giả, trong dịp an cư này, Tôn giả có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ gì từ Thế Tôn?
—Này chư Hiền, tôi có tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Và nhiều hơn là các Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa”.
Vi-n 7 Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời này nữa. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si là bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau”.
Vi-n 8 Lại nữa, này chư Hiền, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ từ Thế Tôn như sau: “Thật là ít, này các Tỷ-kheo, là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, làm cho muội lược tham, sân, si, thành bậc Nhất lai, chỉ một lần trở lui đời này nữa để chấm dứt khổ đau. Và nhiều hơn là những Tỷ-kheo, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không còn phải thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 55.52
- 6. A Wise Person
One Who Completed the Rains
2. 2. Kinh An Cư Mùa Mưa
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññataro bhikkhu sāvatthiyaṁ vassaṁvuttho kapilavatthuṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena. Assosuṁ kho kāpilavatthavā sakyā: “aññataro kira bhikkhu sāvatthiyaṁ vassaṁvuttho kapilavatthuṁ anuppatto”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now at that time a certain mendicant who had completed the rainy season residence in Sāvatthī arrived at Kapilavatthu on some business. The Sakyans of Kapilavatthu heard about this.
1048. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, có một vị Tỳ khưu đã an cư mùa mưa ở Sāvatthī, vì một vài công việc, đã đi đến Kapilavatthu. Các Thích tử ở Kapilavatthu nghe rằng: “Nghe nói có một vị Tỳ khưu đã an cư mùa mưa ở Sāvatthī, nay đã đến Kapilavatthu.”
Atha kho kāpilavatthavā sakyā yena so bhikkhu tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā taṁ bhikkhuṁ etadavocuṁ: “kacci, bhante, bhagavā arogo ceva balavā cā”ti?
“Arogo cāvuso, bhagavā balavā cā”ti.
“Kacci pana, bhante, sāriputtamoggallānā arogā ceva balavanto cā”ti?
“Sāriputtamoggallānāpi kho, āvuso, arogā ceva balavanto cā”ti.
“Kacci pana, bhante, bhikkhusaṅgho arogo ca balavā cā”ti.
“Bhikkhusaṅghopi kho, āvuso, arogo ca balavā cā”ti.
“Atthi pana te, bhante, kiñci iminā antaravassena bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitan”ti?
“Sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti. Atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā’ti.
They went to that mendicant, bowed, sat down to one side, and said to him, “Sir, we hope that the Buddha is healthy and strong.”
“He is, respectable sirs.”
“And we hope that Sāriputta and Moggallāna are healthy and strong.”
“They are.”
“And we hope that the mendicant Saṅgha is healthy and strong.”
“It is.”
“But sir, during this rains residence did you hear and learn anything in the presence of the Buddha?”
“Respectable sirs, I heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘There are fewer mendicants who realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. There are more mendicants who, having ended the five lower fetters, are reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world.’
Bấy giờ, những người thuộc dòng họ Thích Ca ở thành Ca-tỳ-la-vệ đã đi đến chỗ vị tỳ khưu ấy; sau khi đến, họ đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đã ngồi xuống một bên, những người thuộc dòng họ Thích Ca ở thành Ca-tỳ-la-vệ đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này: – ‘Bạch ngài, có phải đức Thế Tôn được vô bệnh và khỏe mạnh không?’ – ‘Này các hiền giả, đức Thế Tôn được vô bệnh và khỏe mạnh.’ – ‘Bạch ngài, có phải các ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên được vô bệnh và khỏe mạnh không?’ – ‘Này các hiền giả, các ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng được vô bệnh và khỏe mạnh.’ – ‘Bạch ngài, có phải Tăng chúng tỳ khưu được vô bệnh và khỏe mạnh không?’ – ‘Này các hiền giả, Tăng chúng tỳ khưu cũng được vô bệnh và khỏe mạnh.’ – ‘Bạch ngài, trong mùa an cư vừa qua, có phải ngài đã được nghe, đã được lãnh hội điều gì trực tiếp từ đức Thế Tôn không?’ – ‘Này các hiền giả, tôi đã được nghe, đã được lãnh hội điều này trực tiếp từ đức Thế Tôn: – “Này các tỳ khưu, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận các lậu hoặc, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí ngay trong hiện tại, đã thành tựu và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc, là rất ít. Trái lại, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, là các vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở tại nơi ấy, có đặc tính không trở lại từ thế giới ấy, là nhiều hơn.”’
Aparampi kho me, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā. Atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
In addition, I heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘There are fewer mendicants who, having ended the five lower fetters, are reborn spontaneously, and will be extinguished there, not liable to return from that world. There are more mendicants who, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, are once-returners, who come back to this world once only, then make an end of suffering.’
‘Này các hiền giả, tôi còn được nghe, được lãnh hội điều khác nữa trực tiếp từ đức Thế Tôn: – “Này các tỳ khưu, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, là các vị hóa sanh, sẽ nhập Niết-bàn ở tại nơi ấy, có đặc tính không trở lại từ thế giới ấy, là rất ít. Trái lại, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận ba kiết sử, do sự làm cho mỏng nhẹ tham, sân, và si, là các vị Nhất lai, chỉ trở lại thế giới này một lần duy nhất rồi sẽ chấm dứt khổ đau, là nhiều hơn.”’
Aparampi kho me, āvuso, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ: ‘appakā te, bhikkhave, bhikkhū ye tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti. Atha kho eteva bahutarā bhikkhū ye tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’”ti.
Dutiyaṁ.
In addition, I heard and learned this in the presence of the Buddha: ‘There are fewer mendicants who, with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, are once-returners, who come back to this world once only, then make an end of suffering. There are more mendicants who, with the ending of three fetters are stream-enterers, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.’”
‘Này các hiền giả, tôi còn được nghe, được lãnh hội điều khác nữa trực tiếp từ đức Thế Tôn: – “Này các tỳ khưu, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận ba kiết sử, do sự làm cho mỏng nhẹ tham, sân, và si, là các vị Nhất lai, chỉ trở lại thế giới này một lần duy nhất rồi sẽ chấm dứt khổ đau, là rất ít. Trái lại, số tỳ khưu nào do sự đoạn tận ba kiết sử, là các vị Dự lưu, có đặc tính không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn sẽ đạt đến sự giác ngộ, là nhiều hơn.”’ Hết bài kinh thứ hai.