- Saṁyutta Nikāya 52.4
- 1. Rahogatavagga
Bản dịch
SN 52.4 — Kinh Kaṇḍakī Thứ Nhất
Paṭhamakaṇḍakīsutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Moggallāna trú ở Sāketa, tại rừng Kantakii.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahà Moggallāna, vào buổi chiều, từ độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Anuruddha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuruddha những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Tôn giả Anuruddha:
—Thưa Hiền giả Anuruddha, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt pháp gì, phải an trú pháp ấy?
—Thưa Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi đạt bốn niệm xứ, phải an trú pháp ấy. Thế nào là bốn?
Vi-n 4 Ở đây, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo trú, quán tâm trên tâm … Tỷ-kheo trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Thưa Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo hữu học, sau khi chứng đạt bốn niệm xứ này, phải an trú pháp ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 52.4
- 1. In Private
At Thorny Wood (1st)
4. Kinh Kaṇḍakī Thứ Nhất
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca anuruddho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno sākete viharanti kaṇḍakīvane. Atha kho āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahāmoggallāno sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhitā yenāyasmā anuruddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anuruddhena saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca:
“sekhenāvuso anuruddha, bhikkhunā katame dhammā upasampajja vihātabbā”ti?
At one time the venerables Anuruddha, Sāriputta, and Mahāmoggallāna were staying near Sāketa in the Thorny Wood. Then in the late afternoon, Sāriputta and Mahāmoggallāna came out of retreat, went to Anuruddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side. Sāriputta said to Anuruddha:
“Reverend Anuruddha, what things should a trainee mendicant enter and remain in?”
902. Một thời, trưởng lão Anuruddha, trưởng lão Sāriputta, và trưởng lão Mahāmoggallāna trú ở Sāketa, trong rừng Kaṇḍakī. Rồi trưởng lão Sāriputta và trưởng lão Mahāmoggallāna, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ trưởng lão Anuruddha; sau khi đến, họ cùng nhau trao đổi lời chào hỏi thân thiện với trưởng lão Anuruddha. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, trưởng lão Sāriputta nói với trưởng lão Anuruddha rằng: – Thưa hiền giả Anuruddha, vị tỳ khưu hữu học nên an trú, thành tựu những pháp nào?
“Sekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā. Katame cattāro? Idhāvuso, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ—sekhenāvuso sāriputta, bhikkhunā ime cattāro satipaṭṭhānā upasampajja vihātabbā”ti.
Catutthaṁ.
“Reverend Sāriputta, a trainee mendicant should enter and remain in the four kinds of mindfulness meditation. What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. A trainee mendicant should enter and remain in these four kinds of mindfulness meditation.”
– Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu hữu học nên an trú, thành tựu bốn Niệm Xứ. Bốn niệm xứ nào? Này hiền giả, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu phiền ở đời; (quán) trên các cảm thọ... trên tâm... trên các pháp, vị ấy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu phiền ở đời. Thưa hiền giả Sāriputta, vị tỳ khưu hữu học nên an trú, thành tựu bốn Niệm Xứ này.