Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Saṁyutta Nikāya 50.55–66
- 6. Punagaṅgāpeyyālavagga
Pācīnādisutta
“Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu pañca balāni bhāvento pañca balāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pañca balāni bhāvento pañca balāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro?
- Linked Discourses 50.55–66
- 6. Another Chapter of Abbreviated Texts on the Ganges
Sloping East, Etc.
“Mendicants, the Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the five powers slants, slopes, and inclines to extinguishment.
And how does a mendicant who develops the five powers slant, slope, and incline to extinguishment?
“Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương đông, xuôi về phương đông, hướng về phương đông; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu... cho đến... thiền thứ hai... cho đến... thiền thứ ba... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn.” Kinh thứ mười hai.
Idha, bhikkhave, bhikkhu, saddhābalaṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ …
evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pañca balāni bhāvento pañca balāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
It’s when a mendicant develops the powers of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, which culminate in the removal of greed, hate, and delusion.
That’s how a mendicant who develops and cultivates the five powers slants, slopes, and inclines to extinguishment.”
923-934. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, có bốn loại thiền này. Bốn loại nào? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại thiền.”
Vitthāretabbā.
Dvādasamaṁ.
Gaṅgāpeyyālavaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Cha pācīnato ninnā, cha ninnā ca samuddato; Dvete cha dvādasa honti, vaggo tena pavuccatīti.
(Tell in full for each of the different rivers as in SN 45.91–102, removal of greed version.)
Six on slanting to the east, and six on slanting to the ocean; these two sixes make twelve, and that’s how this chapter is recited.
967-976. “Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này. Năm loại nào? Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh – này các Tỷ-kheo, đây là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri, liễu tri, đoạn tận, đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, bốn thiền cần phải được tu tập. Bốn loại nào? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu... thiền thứ hai... thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri, liễu tri, đoạn tận, đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, bốn thiền này cần phải được tu tập.” Cần được trình bày chi tiết. Kinh thứ mười. (Cần được trình bày chi tiết như trong Tương Ưng Đạo).