- Saṁyutta Nikāya 49.35–44
- 4. Esanāvagga
Bản dịch
SN 49.35-44 — Esanādisuttadasaka
Esanādisuttadasaka
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba? Dục tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là ba tầm cầu.
Vi-n 3 Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận ba tầm cầu này, này các Tỷ-kheo, bốn chánh cần này cần phải tu tập. Thế nào là bốn?
Vi-n 4-7. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh…; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho sung mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 8 Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận ba tầm cầu này, bốn chánh cần này cần phải tu tập.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 49.35–44
- 4. Searches
Ten Discourses on Searches, Etc.
1-10. Mười Kinh Bắt Đầu Với Tìm Cầu
“Tisso imā, bhikkhave, esanā. Katamā tisso? Kāmesanā, bhavesanā, brahmacariyesanā—imā kho, bhikkhave, tisso esanā.
Imāsaṁ kho, bhikkhave, tissannaṁ esanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya cattāro sammappadhānā bhāvetabbā.
“Mendicants, there are these three searches. What three? The search for sensual pleasures, the search for continued existence, and the search for a spiritual path. These are the three searches.
The four right efforts should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these three searches.
451-460. Này các Tỳ khưu, có ba sự tìm cầu này. Thế nào là ba? Tìm cầu dục, tìm cầu hữu, tìm cầu phạm hạnh. (Cần được trình bày chi tiết).
Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trong các cảm thọ... cho đến... trong tâm... cho đến... trong các pháp, vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, liễu tri, đoạn tận, và đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ này cần phải được tu tập.
Imāsaṁ kho, bhikkhave, tissannaṁ esanānaṁ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ime cattāro sammappadhānā bhāvetabbā”ti.
These four right efforts should be developed for the direct knowledge, complete understanding, finishing, and giving up of these three searches.”
461-470. Này các Tỳ khưu, có năm thượng phần kiết sử này. Thế nào là năm? Sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỳ khưu, đây chính là năm thượng phần kiết sử. Này các Tỳ khưu, để thắng tri, liễu tri, đoạn tận, và đoạn trừ năm thượng phần kiết sử này, bốn niệm xứ cần phải được tu tập.
(Vitthāretabbaṁ.)
Dasamaṁ.
Esanāvaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Esanā vidhā āsavo, Bhavo ca dukkhatā tisso; Khilaṁ malañca nīgho ca, Vedanā taṇhā tasinā cāti.
(Tell in full as in SN 45.161–170.)
Searches, discriminations, defilements, states of existence, three kinds of suffering, barrenness, stains, and troubles, feelings, craving, and thirst.
(Tương Ưng Niệm Xứ cần được trình bày chi tiết giống như Tương Ưng Đạo).