- Saṁyutta Nikāya 49.1–12
- 1. Gaṅgāpeyyālavagga
Bản dịch
SN 49.1-12 — Pācīnādisutta
Pācīnādisutta
Vi-n 1-2 Tại Sāvatthi. Tại đấy, Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn?
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 4 Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 5 Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 6 Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất (asammosàya), làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 7 Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn chánh cần.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, bốn chánh cần tu tập làm cho sung mãn như thế nào, lại thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn?
Vi-n 9 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần … cố gắng; đối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi … cố gắng; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 49.1–12
- 1. Abbreviated Texts on the Ganges
Sloping East, Etc.
1-12. Mười hai kinh bắt đầu với kinh Hướng Về Phương Đông
Sāvatthinidānaṁ.
Tatra kho bhagavā etadavoca:
“cattārome, bhikkhave, sammappadhānā. Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Ime kho, bhikkhave, cattāro sammappadhānāti.
At Sāvatthī.
There the Buddha said:
“Mendicants, there are these four right efforts. What four?
It’s when a mendicant generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives so that bad, unskillful qualities don’t arise.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed. These are the four right efforts.
651-662. Nhân duyên ở Sāvatthī. Tại đó, Thế Tôn đã nói điều này: Này các tỳ khưu, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các pháp ác, bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn trừ, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho duy trì, không cho lu mờ, làm cho tăng trưởng, quảng đại, tu tập, viên mãn, nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Này các tỳ khưu, đây là bốn chánh cần.
Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu cattāro sammappadhāne bhāvento cattāro sammappadhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu cattāro sammappadhāne bhāvento cattāro sammappadhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ anuppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Uppannānaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Anuppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ uppādāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Uppannānaṁ kusalānaṁ dhammānaṁ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu cattāro sammappadhāne bhāvento cattāro sammappadhāne bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
Dvādasamaṁ.
The Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant who develops and cultivates the four right efforts slants, slopes, and inclines to extinguishment.
And how does a mendicant who develops the four right efforts slant, slope, and incline to extinguishment?
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities don’t arise.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that bad, unskillful qualities that have arisen are given up.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities arise.
They generate enthusiasm, try, make an effort, exert the mind, and strive so that skillful qualities that have arisen remain, are not lost, but increase, mature, and are fully developed.
That’s how a mendicant who develops and cultivates the four right efforts slants, slopes, and inclines to extinguishment.”
“Này các tỳ khưu, ví như sông Gaṅgā xuôi về phương đông, hướng về phương đông, chảy về phương đông; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thì sẽ xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, chảy về Niết Bàn. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thì sẽ xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, chảy về Niết Bàn? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm về việc không cho khởi sanh các pháp ác bất thiện chưa sanh khởi. Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm về việc đoạn trừ các pháp ác bất thiện đã sanh khởi. Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm về việc làm cho khởi sanh các pháp thiện chưa sanh khởi. Vị ấy khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, quyết tâm về sự duy trì, không quên lãng, làm cho tăng trưởng, phát triển rộng rãi, tu tập, và viên mãn các pháp thiện đã sanh khởi. Này các tỳ khưu, chính như vậy, vị tỳ khưu tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần, thì sẽ xuôi về Niết Bàn, hướng về Niết Bàn, chảy về Niết Bàn.” (Kinh) thứ mười hai. (Phần lặp lại về sông Gaṅgā của Tương Ưng Chánh Cần nên được diễn giải theo cách của chánh cần).
Gaṅgāpeyyālavaggo paṭhamo.
(Sammappadhānasaṁyuttassa gaṅgāpeyyālī sammappadhānavasena vitthāretabbā.)
Tassuddānaṁ
(Tell in full as in <a href='https://suttacentral.net/sn45.92'>SN 45.92</a>–102.)
Phẩm Gaṅgā-peyyāla thứ nhất.
Cha pācīnato ninnā, cha ninnā ca samuddato; Dvete cha dvādasa honti, vaggo tena pavuccatīti.
Six on slanting to the east, and six on slanting to the ocean; these two sixes make twelve, and that’s how this chapter is recited.
Sáu kinh xuôi về hướng Đông, sáu kinh xuôi về biển; hai lần sáu là mười hai, do đó phẩm được gọi như vậy.