- Saṁyutta Nikāya 48.6
- 1. Suddhikavagga
Bản dịch
SN 48.6 — Kinh Sa-môn Bà-la-môn Thứ Nhất
Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn … tuệ căn …
Vi-n 3 Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, không như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly năm căn này; những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay không được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng không tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 4 Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỷ-kheo, như thật rõ biết sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly năm căn này; những vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, này các Tỷ-kheo, được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay được chấp nhận là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn; và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, cũng tự mình chứng ngộ với thượng trí, chứng đạt và an trú mục đích của Sa-môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.6
- 1. Plain Version
Ascetics and Brahmins (1st)
6. Kinh Sa-môn Bà-la-môn Thứ Nhất
“Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca panete āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānanti,
“Mendicants, there are these five faculties. What five? The faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand the gratification, drawback, and escape when it comes to these five faculties. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
There are ascetics and brahmins who do truly understand the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape when it comes to these five faculties.
476. Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn... cho đến... tuệ căn. Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết như thật về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm căn này, này các Tỳ khưu, đối với Ta, họ không được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những vị tôn giả ấy cũng không tự mình thắng tri, chứng ngộ, và thành tựu mục đích của Sa-môn hay mục đích của Bà-la-môn ngay trong hiện tại mà an trú.
Chaṭṭhaṁ.
Còn những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, này các Tỳ khưu, biết như thật về sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm căn này, này các Tỳ khưu, đối với Ta, họ được xem là Sa-môn giữa các Sa-môn, và Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những vị tôn giả ấy tự mình thắng tri, chứng ngộ, và thành tựu mục đích của Sa-môn và mục đích của Bà-la-môn ngay trong hiện tại mà an trú. (Kinh) thứ sáu.