- Saṁyutta Nikāya 48.58
- 6. Sūkarakhatavagga
Bản dịch
SN 48.58 — Kinh Sūkarakhata
Sūkarakhatasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Gijjhakuuta (núi Linh Thứu) trong hang Con Gấu (suukarakhatà).
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta:
—Do thấy lý do gì, này Sāriputta, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai?
—Vì thấy vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.
Vi-n 3 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Do thấy vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sāriputta, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.
Vi-n 4 Thế nào là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sāriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay lời giảng dạy của Như Lai?
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ … tấn căn … niệm căn … định căn … tu tập tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ðây là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.
Vi-n 6 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Cái này là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sāriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.
Vi-n 7 Và này Sāriputta, thế nào là sự tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?
Vi-n 8 —Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc sống tôn trọng, cung kính bậc Ðạo Sư; sống tôn trọng, cung kính Pháp; sống tôn trọng, cung kính chúng Tăng; sống tôn trọng, cung kính học giới; sống tôn trọng, cung kính Thiền định. Ðây là sự tối thượng tôn kính, bạch Thế Tôn, mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc; bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.
Vi-n 9 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Cái này là tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.58
- 6. The Boar’s Cave
The Boar’s Cave
8. Kinh Sūkarakhata
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate sūkarakhatāyaṁ. Tatra kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“kiṁ nu kho, sāriputta, atthavasaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti?
“Anuttarañhi, bhante, yogakkhemaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Anuttarañhi, sāriputta, yogakkhemaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattati.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture’s Peak Mountain in the Boar’s Cave. Then the Buddha said to Venerable Sāriputta:
“Sāriputta, considering what benefit does a mendicant with defilements ended, in rolling forth, roll forth with utmost deference for the Realized One or his instructions?”
“Sir, it is considering the supreme sanctuary from the yoke that a mendicant with defilements ended, in rolling forth, rolls forth with utmost deference for the Realized One or his instructions.”
“Good, good, Sāriputta! For it is considering the supreme sanctuary from the yoke that a mendicant whose defilements are ended, in rolling forth, rolls forth with utmost deference for the Realized One or his instructions.
528. Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha, tại núi Gijjhakūṭa, trong hang Sūkarakhata. Tại đó, đức Thế Tôn gọi trưởng lão Sāriputta: ‘Này Sāriputta, do thấy được lợi ích gì mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai?’ ‘Bạch ngài, do thấy được sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’ ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, do thấy được sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’
Katamo ca, sāriputta, anuttaro yogakkhemo yaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti?
“Idha, bhante, khīṇāsavo bhikkhu saddhindriyaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ, vīriyindriyaṁ bhāveti …pe… satindriyaṁ bhāveti … samādhindriyaṁ bhāveti … paññindriyaṁ bhāveti upasamagāmiṁ sambodhagāmiṁ. Ayaṁ kho, bhante, anuttaro yogakkhemo yaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Eso hi, sāriputta, anuttaro yogakkhemo yaṁ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatīti.
And what is that supreme sanctuary from the yoke?”
“It’s when a mendicant with defilements ended develops the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, which lead to peace and awakening. It is considering this supreme sanctuary from the yoke that a mendicant with defilements ended, in rolling forth, rolls forth with utmost deference for the Realized One or his instructions.”
“Good, good, Sāriputta! For this is that supreme sanctuary from the yoke.
‘Và này Sāriputta, thế nào là sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược, mà do thấy được điều ấy, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai?’ ‘Bạch ngài, ở đây, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín quyền, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ; tu tập tấn quyền... cho đến... tu tập niệm quyền... cho đến... tu tập định quyền... cho đến... tu tập tuệ quyền, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Bạch ngài, đây chính là sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược, mà do thấy được điều ấy, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’ ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, đây chính là sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược, mà do thấy được điều ấy, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’
Katamo ca, sāriputta, paramanipaccakāro yaṁ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti?
“Idha, bhante, khīṇāsavo bhikkhu satthari sagāravo viharati sappatisso, dhamme sagāravo viharati sappatisso, saṅghe sagāravo viharati sappatisso, sikkhāya sagāravo viharati sappatisso, samādhismiṁ sagāravo viharati sappatisso. Ayaṁ kho, bhante, paramanipaccakāro yaṁ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta. Eso hi, sāriputta, paramanipaccakāro yaṁ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṁ pavattamāno pavattatī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
And what is that utmost deference that a mendicant with defilements ended, in rolling forth, shows toward the Realized One or his instructions?”
“It’s when a mendicant with defilements ended maintains respect and reverence for the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, and immersion. This is that utmost deference.”
“Good, good, Sāriputta! For this is that utmost deference that a mendicant with defilements ended, in rolling forth, shows toward the Realized One or his instructions.”
‘Và này Sāriputta, thế nào là sự cung kính tột bậc, mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai?’ ‘Bạch ngài, ở đây, vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc sống có tôn kính, có thuận tùng đối với bậc Đạo Sư; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với Pháp; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với Tăng; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với học giới; sống có tôn kính, có thuận tùng đối với định. Bạch ngài, đây chính là sự cung kính tột bậc, mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’ ‘Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, đây chính là sự cung kính tột bậc, mà vị tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại thực hành với sự cung kính tột bậc đối với đức Như Lai hoặc giáo pháp của đức Như Lai.’