- Saṁyutta Nikāya 48.40
- 4. Sukhindriyavagga
Bản dịch
SN 48.40 — Kinh Uppaṭipāṭika
Uppaṭipāṭikasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Khổ căn, ưu căn, lạc căn, hỷ căn, xả căn.
Vi-n 3 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên khổ căn, vị ấy rõ biết như vầy: “Khổ căn này khởi lên nơi ta”. Và khổ căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và khổ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên sẽ khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết khổ căn, rõ biết khổ căn tập khởi, rõ biết khổ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, khổ căn khởi lên được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết khổ căn ấy. Và tại chỗ nào khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ở đây, khổ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của khổ căn, tập trung tâm (upasamhàsi) để đạt tới điều kiện ấy.
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên ưu căn, vị ấy rõ biết như vầy: “Trong ta khởi lên ưu căn này”. Và ưu căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và ưu căn ấy có thể khởi lên, không tướng, không nhân, không hành, không duyên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết ưu căn, rõ biết ưu căn tập khởi, rõ biết ưu căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết ưu căn ấy. Và tại chỗ nào ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt tâm. Và ở đây, ưu căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của ưu căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.
Vi-n 5 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên lạc căn; vị ấy rõ biết như vầy: “Lạc căn này khởi lên nơi ta”. Lạc căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và lạc căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Và vị ấy rõ biết lạc căn, rõ biết lạc căn tập khởi, rõ biết lạc căn đoạn diệt. Từ chỗ nào, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết lạc căn ấy. Và tại chỗ nào lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly hỷ, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Ở đây, lạc căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của lạc căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.
Vi-n 6 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên hỷ căn; vị ấy rõ biết như sau: “Hỷ căn này khởi lên nơi ta”. Và hỷ căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và hỷ căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết hỷ căn, rõ biết hỷ căn tập khởi, rõ biết hỷ căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, hỷ căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết hỷ căn ấy. Và tại chỗ nào hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ở đây, hỷ căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của hỷ căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.
Vi-n 7 Ở đây, này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, khởi lên xả căn, vị ấy rõ biết như sau: “Xả căn này khởi lên nơi ta”. Và xả căn ấy có tướng, có nhân, có hành, có duyên. Và xả căn ấy không tướng, không nhân, không hành, không duyên có thể khởi lên; sự kiện như vậy không xảy ra. Vị ấy rõ biết xả căn, rõ biết xả căn tập khởi, rõ biết xả căn đoạn diệt. Từ chỗ nào khởi lên, xả căn được đoạn diệt không có dư tàn, vị ấy rõ biết xả căn ấy. Và tại chỗ nào xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Ở đây, xả căn khởi lên, được đoạn diệt không có dư tàn. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là Tỷ-kheo biết rõ sự đoạn diệt của xả căn, tập trung tâm để đạt tới điều kiện ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.40
- 4. The Pleasure Faculty
Irregular Order
10. Kinh Uppaṭipāṭika
“Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Dukkhindriyaṁ, domanassindriyaṁ, sukhindriyaṁ, somanassindriyaṁ, upekkhindriyaṁ.
Idha, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati dukkhindriyaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ dukkhindriyaṁ, tañca kho sanimittaṁ sanidānaṁ sasaṅkhāraṁ sappaccayaṁ. Tañca animittaṁ anidānaṁ asaṅkhāraṁ appaccayaṁ dukkhindriyaṁ uppajjissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. So dukkhindriyañca pajānāti, dukkhindriyasamudayañca pajānāti, dukkhindriyanirodhañca pajānāti, yattha cuppannaṁ dukkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati tañca pajānāti. Kattha cuppannaṁ dukkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettha cuppannaṁ dukkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu aññāsi dukkhindriyassa nirodhaṁ, tadatthāya cittaṁ upasaṁharati’.
“Mendicants, there are these five faculties. What five? The faculties of pain, sadness, pleasure, happiness, and equanimity.
While a mendicant is meditating—diligent, keen, and resolute—the faculty of pain arises. They understand: ‘The faculty of pain has arisen in me. And that has a basis, a source, a condition, and a reason. It’s not possible that the faculty of pain will arise without a basis, a source, a condition, or a reason.’ They understand the faculty of pain, its origin, its cessation, and where that faculty of pain that’s arisen ceases without remainder. And where does that faculty of pain that’s arisen cease without remainder? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. That’s where the faculty of pain that’s arisen ceases without remainder. They’re called a mendicant who understands the cessation of the faculty of pain, and who applies their mind to that end.
510. “Này các tỳ khưu, có năm quyền này. Thế nào là năm? Khổ quyền, ưu quyền, lạc quyền, hỷ quyền, xả quyền. Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, khổ quyền sanh khởi. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Khổ quyền này đã sanh khởi nơi ta. Và nó có tướng, có nhân duyên, có hành, có điều kiện’. ‘Một khổ quyền không có tướng, không có nhân duyên, không có hành, không có điều kiện mà có thể sanh khởi – trường hợp này không xảy ra’. Vị ấy tuệ tri về khổ quyền, tuệ tri về sự tập khởi của khổ quyền, tuệ tri về sự đoạn diệt của khổ quyền, và tuệ tri về nơi mà khổ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Và ở đâu khổ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Ở đây, khổ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘Vị đã biết sự đoạn diệt của khổ quyền, vị ấy hướng tâm đến mục đích ấy’.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati domanassindriyaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ domanassindriyaṁ, tañca kho sanimittaṁ sanidānaṁ sasaṅkhāraṁ sappaccayaṁ. tañca animittaṁ anidānaṁ asaṅkhāraṁ appaccayaṁ domanassindriyaṁ uppajjissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. So domanassindriyañca pajānāti, domanassindriyasamudayañca pajānāti, domanassindriyanirodhañca pajānāti, yattha cuppannaṁ domanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati tañca pajānāti. Kattha cuppannaṁ domanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettha cuppannaṁ domanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu aññāsi domanassindriyassa nirodhaṁ, tadatthāya cittaṁ upasaṁharati’.
While a mendicant is meditating—diligent, keen, and resolute—the faculty of sadness arises. They understand: ‘The faculty of sadness has arisen in me. And that has a basis, a source, a condition, and a reason. It’s not possible that the faculty of sadness will arise without a basis, a source, a condition, or a reason.’ They understand the faculty of sadness, its origin, its cessation, and where that faculty of sadness that’s arisen ceases without remainder. And where does that faculty of sadness that’s arisen cease without remainder? It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. That’s where the faculty of sadness that’s arisen ceases without remainder. They’re called a mendicant who understands the cessation of the faculty of sadness, and who applies their mind to that end.
“Lại nữa, này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, ưu quyền sanh khởi. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Ưu quyền này đã sanh khởi nơi ta. Và nó có tướng, có nhân duyên, có hành, có điều kiện’. ‘Một ưu quyền không có tướng, không có nhân duyên, không có hành, không có điều kiện mà có thể sanh khởi – trường hợp này không xảy ra’. Vị ấy tuệ tri về ưu quyền, tuệ tri về sự tập khởi của ưu quyền, tuệ tri về sự đoạn diệt của ưu quyền, và tuệ tri về nơi mà ưu quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Và ở đâu ưu quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn? Ở đây, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ở đây, ưu quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘Vị đã biết sự đoạn diệt của ưu quyền, vị ấy hướng tâm đến mục đích ấy’.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati sukhindriyaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ sukhindriyaṁ, tañca kho sanimittaṁ sanidānaṁ sasaṅkhāraṁ sappaccayaṁ. tañca animittaṁ anidānaṁ asaṅkhāraṁ appaccayaṁ sukhindriyaṁ uppajjissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. So sukhindriyañca pajānāti, sukhindriyasamudayañca pajānāti, sukhindriyanirodhañca pajānāti, yattha cuppannaṁ sukhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati tañca pajānāti. Kattha cuppannaṁ sukhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettha cuppannaṁ sukhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu aññāsi sukhindriyassa nirodhaṁ, tadatthāya cittaṁ upasaṁharati’.
While a mendicant is meditating—diligent, keen, and resolute—the faculty of pleasure arises. They understand: ‘The faculty of pleasure has arisen in me. And that has a basis, a source, a condition, and a reason. It’s not possible that the faculty of pleasure will arise without a basis, a source, a condition, or a reason.’ They understand the faculty of pleasure, its origin, its cessation, and where that faculty of pleasure that’s arisen ceases without remainder. And where does that faculty of pleasure that’s arisen cease without remainder? It’s when, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ That’s where the faculty of pleasure that’s arisen ceases without remainder. They’re called a mendicant who understands the cessation of the faculty of pleasure, and who applies their mind to that end.
“Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, lạc quyền khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Lạc quyền này đã khởi lên nơi ta, và điều ấy có nhân tướng, có nhân duyên, có sự tạo tác, có điều kiện hỗ trợ. Lạc quyền ấy sẽ khởi lên mà không có nhân tướng, không có nhân duyên, không có sự tạo tác, không có điều kiện hỗ trợ -- trường hợp này không xảy ra’. Vị ấy tuệ tri lạc quyền, tuệ tri sự tập khởi của lạc quyền, tuệ tri sự đoạn diệt của lạc quyền, và tuệ tri nơi nào lạc quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Và ở đâu lạc quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu do ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, điều mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Ở đây, lạc quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘Vị tỳ khưu đã liễu tri sự đoạn diệt của lạc quyền, hướng tâm đến mục đích ấy’.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati somanassindriyaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ somanassindriyaṁ, tañca kho sanimittaṁ sanidānaṁ sasaṅkhāraṁ sappaccayaṁ. tañca animittaṁ anidānaṁ asaṅkhāraṁ appaccayaṁ somanassindriyaṁ uppajjissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. So somanassindriyañca pajānāti, somanassindriyasamudayañca pajānāti, somanassindriyanirodhañca pajānāti, yattha cuppannaṁ somanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati tañca pajānāti. Kattha cuppannaṁ somanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ettha cuppannaṁ somanassindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu aññāsi somanassindriyassa nirodhaṁ, tadatthāya cittaṁ upasaṁharati’.
While a mendicant is meditating—diligent, keen, and resolute—the faculty of happiness arises. They understand: ‘The faculty of happiness has arisen in me. And that has a basis, a source, a condition, and a reason. It’s not possible that the faculty of happiness will arise without a basis, a source, a condition, or a reason.’ They understand the faculty of happiness, its origin, its cessation, and where that faculty of happiness that’s arisen ceases without remainder. And where does that faculty of happiness that’s arisen cease without remainder? It’s when, giving up pleasure and pain, and disappearance former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. That’s where the faculty of happiness that’s arisen ceases without remainder. They’re called a mendicant who understands the cessation of the faculty of happiness, and who applies their mind to that end.
“Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, hỷ quyền khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Hỷ quyền này đã khởi lên nơi ta, và điều ấy có nhân tướng, có nhân duyên, có sự tạo tác, có điều kiện hỗ trợ. Hỷ quyền ấy sẽ khởi lên mà không có nhân tướng, không có nhân duyên, không có sự tạo tác, không có điều kiện hỗ trợ -- trường hợp này không xảy ra’. Vị ấy tuệ tri hỷ quyền, tuệ tri sự tập khởi của hỷ quyền, tuệ tri sự đoạn diệt của hỷ quyền, và tuệ tri nơi nào hỷ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Và ở đâu hỷ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu do xả lạc, xả khổ, và do hỷ ưu đã diệt từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ở đây, hỷ quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘Vị tỳ khưu đã liễu tri sự đoạn diệt của hỷ quyền, hướng tâm đến mục đích ấy’.”
Idha pana, bhikkhave, bhikkhuno appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati upekkhindriyaṁ. So evaṁ pajānāti: ‘uppannaṁ kho me idaṁ upekkhindriyaṁ, tañca kho sanimittaṁ sanidānaṁ sasaṅkhāraṁ sappaccayaṁ. tañca animittaṁ anidānaṁ asaṅkhāraṁ appaccayaṁ upekkhindriyaṁ uppajjissatī’ti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. So upekkhindriyañca pajānāti, upekkhindriyasamudayañca pajānāti, upekkhindriyanirodhañca pajānāti, yattha cuppannaṁ upekkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati tañca pajānāti. Kattha cuppannaṁ upekkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati? Idha, bhikkhave, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, ettha cuppannaṁ upekkhindriyaṁ aparisesaṁ nirujjhati. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu aññāsi upekkhindriyassa nirodhaṁ, tadatthāya cittaṁ upasaṁharatī’”ti.
Dasamaṁ.
While a mendicant is meditating—diligent, keen, and resolute—the faculty of equanimity arises. They understand: ‘The faculty of equanimity has arisen in me. And that has a basis, a source, a condition, and a reason. It’s not possible that the faculty of equanimity will arise without a basis, a source, a condition, or a reason.’ They understand the faculty of equanimity, its origin, its cessation, and where that faculty of equanimity that’s arisen ceases without remainder. And where does that faculty of equanimity that’s arisen cease without remainder? It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. That’s where the faculty of equanimity that’s arisen ceases without remainder. They’re called a mendicant who understands the cessation of the faculty of equanimity, and who applies their mind to that end.”
“Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống không dể duôi, nhiệt tâm, tinh cần, xả quyền khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: ‘Xả quyền này đã khởi lên nơi ta, và điều ấy có nhân tướng, có nhân duyên, có sự tạo tác, có điều kiện hỗ trợ. Xả quyền ấy sẽ khởi lên mà không có nhân tướng, không có nhân duyên, không có sự tạo tác, không có điều kiện hỗ trợ -- trường hợp này không xảy ra’. Vị ấy tuệ tri xả quyền, tuệ tri sự tập khởi của xả quyền, tuệ tri sự đoạn diệt của xả quyền, và tuệ tri nơi nào xả quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Và ở đâu xả quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú diệt thọ tưởng định. Ở đây, xả quyền đã sanh khởi được đoạn diệt không còn dư tàn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là: ‘Vị tỳ khưu đã liễu tri sự đoạn diệt của xả quyền, hướng tâm đến mục đích ấy’.” Kinh thứ mười.
Sukhindriyavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Phẩm Lạc Quyền, thứ tư.
Suddhikañca soto arahā, duve samaṇabrāhmaṇā; Vibhaṅgena tayo vuttā, kaṭṭho uppaṭipāṭikanti.
Kinh Thuần túy, kinh Dự Lưu, và A-la-hán, hai kinh Sa-môn Bà-la-môn; Ba kinh được thuyết giảng với sự phân tích, kinh Khúc Gỗ và kinh Theo Thứ Tự Sanh Khởi.