- Saṁyutta Nikāya 48.4
- 1. Suddhikavagga
Bản dịch
SN 48.4 — Kinh A-la-hán Thứ Nhất
Paṭhamaarahantasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn … tuệ căn.
Vi-n 3 Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, sau khi như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm căn này, được giải thoát không có chấp thủ; khi ấy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử ấy được gọi là vị A-la-hán, lậu hoặc đã được đoạn tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã được đoạn tận, chánh trí, giải thoát.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 48.4
- 1. Plain Version
A Perfected One (1st)
4. Kinh A-la-hán Thứ Nhất
“Pañcimāni, bhikkhave, indriyāni. Katamāni pañca? Saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ. Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imesaṁ pañcannaṁ indriyānaṁ assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādāvimutto hoti—ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, there are these five faculties. What five? The faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom. A noble disciple comes to be freed by not grasping after truly understanding these five faculties’ gratification, drawback, and escape. Such a mendicant is called a perfected one, with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart’s goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment.”
474. Này các Tỳ khưu, có năm căn này. Thế nào là năm? Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn. Này các Tỳ khưu, khi nào vị Thánh đệ tử, sau khi đã biết như thật về vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của năm căn này, được giải thoát không còn chấp thủ – này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu ấy được gọi là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống đời phạm hạnh, việc cần làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích tối hậu, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí. (Kinh) thứ tư.