Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Saṁyutta Nikāya 48.125–136
- 13. Punagaṅgāpeyyālavagga
Punapācīnādisutta
“Seyyathāpi, bhikkhave, gaṅgā nadī pācīnaninnā pācīnapoṇā pācīnapabbhārā; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu pañcindriyāni bhāvento pañcindriyāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu pañcindriyāni bhāvento pañcindriyāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro?
- Linked Discourses 48.125–136
- 13. Another Chapter of Abbreviated Texts on the Ganges
Another on Sloping East, Etc.
“Mendicants, the Ganges River slants, slopes, and inclines to the east. In the same way, a mendicant developing and cultivating the five faculties slants, slopes, and inclines to extinguishment.
How so?
“Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương đông, xuôi về phương đông, hướng về phương đông; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu... cho đến... thiền thứ hai... cho đến... thiền thứ ba... cho đến... chứng và trú thiền thứ tư. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo tu tập bốn thiền, làm cho sung mãn bốn thiền, thì thiên về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn.” Kinh thứ mười hai.
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddhindriyaṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ …pe… paññindriyaṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu pañcindriyāni bhāvento pañcindriyāni bahulīkaronto nibbānaninno hoti nibbānapoṇo nibbānapabbhāro”ti.
Dvādasamaṁ.
It’s when a mendicant develops the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom, which culminate in the removal of greed, hate, and delusion. That’s how a mendicant developing and cultivating the five faculties slants, slopes, and inclines to extinguishment.”
923-934. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các Tỷ-kheo, có bốn loại thiền này. Bốn loại nào? Này các Tỷ-kheo, ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Do làm cho tầm và tứ lắng dịu, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là ‘xả niệm lạc trú’, chứng và trú thiền thứ ba. Do xả lạc, xả khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại thiền.”
Cha pācīnato ninnā, cha ninnā ca samuddato; Dvete cha dvādasa honti, vaggo tena pavuccatīti.
Six on slanting to the east, and six on slanting to the ocean; these two sixes make twelve, and that’s how this chapter is recited.
Sáu kinh thiên về phương đông, và sáu kinh thiên về biển cả; Hai lần sáu là mười hai, do vậy phẩm được gọi tên.