- Saṁyutta Nikāya 47.46
- 5. Amatavagga
Bản dịch
SN 47.46 — Kinh Thu Thúc Trong Giới Bổn
Pātimokkhasaṁvarasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến … Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con. Sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
—Vậy này Tỷ-kheo, hãy làm cho thanh tịnh căn bản trong các thiện pháp. Thế nào là căn bản trong các thiện pháp?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn (Pātimokkha), đầy đủ uy nghi chánh hạnh (àcàragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau khi sống, hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới rồi, này Tỷ-kheo, y cứ trên giới, an trú trên giới, hãy tu tập bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
Vi-n 5 Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú, quán thân trên thân … Hãy trú, quán thọ trên các cảm thọ … Hãy trú, quán tâm trên tâm … Hãy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Vi-n 6 Khi nào, này Tỷ-kheo, Ông y cứ trên giới, an trú trên giới, tu tập bốn niệm xứ; khi ấy, này Tỷ-kheo, hoặc là đêm hay ngày, hãy chờ đợi ở nơi Ông sự tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải sự tổn giảm.
Vi-n 7 Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết …
Vi-n 8 Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình …
Vi-n 9 Rồi Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.46
- 5. Freedom From Death
Restraint in the Monastic Code
6. Kinh Thu Thúc Trong Giới Bổn
Atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami …pe… ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
Then a mendicant went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
412. Rồi một Tỳ khưu đi đến chỗ Thế Tôn... sau khi ngồi xuống một nơi hợp lẽ, vị Tỳ khưu ấy bạch với Thế Tôn rằng:
“Sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Tasmātiha tvaṁ, bhikkhu, ādimeva visodhehi kusalesu dhammesu. Ko cādi kusalānaṁ dhammānaṁ? Idha tvaṁ, bhikkhu, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharāhi ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhassu sikkhāpadesu. Yato kho tvaṁ, bhikkhu, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharissasi ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhassu sikkhāpadesu; tato tvaṁ, bhikkhu, sīlaṁ nissāya sīle patiṭṭhāya cattāro satipaṭṭhāne bhāveyyāsi.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“Well then, mendicant, you should purify the starting point of skillful qualities. What is the starting point of skillful qualities? Live restrained in the monastic code, conducting yourself well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you’ve undertaken. When you’ve done this, you should develop the four kinds of mindfulness meditation, depending on and grounded on ethics.
“Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để con sau khi nghe pháp của Thế Tôn, có thể sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.” “Này Tỳ khưu, vì vậy, ở đây, trước hết ngươi hãy thanh lọc các thiện pháp. Và cái gì là khởi đầu của các thiện pháp? Này Tỳ khưu, ở đây, ngươi hãy sống được thu thúc bởi sự thu thúc trong giới bổn, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, và sau khi chấp nhận, hãy học tập trong các học giới. Này Tỳ khưu, khi nào ngươi sẽ sống được thu thúc bởi sự thu thúc trong giới bổn, đầy đủ oai nghi và hành xứ, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, và sau khi chấp nhận, sẽ học tập trong các học giới; khi ấy, này Tỳ khưu, ngươi y cứ vào giới, an trú trong giới, hãy tu tập bốn Niệm xứ.”
Katame cattāro? Idha tvaṁ, bhikkhu, kāye kāyānupassī viharāhi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharāhi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Yato kho tvaṁ, bhikkhu, sīlaṁ nissāya sīle patiṭṭhāya ime cattāro satipaṭṭhāne evaṁ bhāvessasi, tato tuyhaṁ, bhikkhu, yā ratti vā divaso vā āgamissati vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu, no parihānī”ti.
What four? Meditate observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. Meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.
When you develop the four kinds of mindfulness meditation in this way, depending on and grounded on ethics, you can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.”
“Bốn pháp ấy là gì? Này Tỳ khưu, ở đây, ngươi hãy sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã nhiếp phục tham và ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên tâm... trên các pháp, hãy sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã nhiếp phục tham và ưu ở đời. Này Tỳ khưu, khi nào ngươi y cứ vào giới, an trú trong giới, tu tập bốn Niệm xứ này như vậy, khi ấy, này Tỳ khưu, đối với ngươi, dù đêm hay ngày đến, chỉ có sự tăng trưởng trong các thiện pháp là điều được mong đợi, không có sự suy giảm.”
Atha kho so bhikkhu bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca pana so bhikkhu arahataṁ ahosīti.
Chaṭṭhaṁ.
And then that mendicant approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Then that mendicant, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.
Rồi Tỳ khưu ấy, sau khi hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra đi. Rồi Tỳ khưu ấy, sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện nam tử chân chánh xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Và Tỳ khưu ấy đã trở thành một trong các vị A-la-hán. (Kinh thứ sáu).