- Saṁyutta Nikāya 47.35
- 4. Ananussutavagga
Satisutta
Sāvatthinidānaṁ.
“Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
Bản dịch
Satisutta
Vi-n 1-2. Tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời … Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết rõ ràng các cảm thọ khởi lên, biết rõ ràng các cảm thọ an trú, biết rõ ràng các cảm thọ đi đến tiêu mất; biết rõ ràng các tưởng khởi lên, biết rõ ràng các tưởng an trú, biết rõ ràng các tưởng đi đến tiêu mất. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hãy trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Sāvatthinidānaṁ.
“Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
At Sāvatthī.
“Mendicants, a mendicant should live mindful and aware. This is my instruction to you.
401. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nên sống có chánh niệm, có tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các vị.”
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
And how is a mendicant mindful? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant is mindful.
Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có chánh niệm? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu sống tùy quán thân ở trong thân, có sự nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu phiền ở trên đời; ở trong các cảm thọ ... cho đến ... ở trong tâm ... cho đến ... sống tùy quán pháp ở trong các pháp, có sự nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham ái và ưu phiền ở trên đời. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có chánh niệm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhuno viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Viditā vitakkā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Viditā saññā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti. Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Pañcamaṁ.
And how is a mendicant aware? It’s when a mendicant knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. They know thoughts as they arise, as they remain, and as they go away. They know perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. That’s how a mendicant is aware. A mendicant should live mindful and aware. This is my instruction to you.”
Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có tỉnh giác? Này các tỳ khưu, ở đây, đối với vị tỳ khưu, các cảm thọ được biết rõ khi chúng sanh khởi, được biết rõ khi chúng hiện hữu, được biết rõ khi chúng đi đến hoại diệt. Các tầm được biết rõ khi chúng sanh khởi, được biết rõ khi chúng hiện hữu, được biết rõ khi chúng đi đến hoại diệt. Các tưởng được biết rõ khi chúng sanh khởi, được biết rõ khi chúng hiện hữu, được biết rõ khi chúng đi đến hoại diệt. Này các tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có tỉnh giác. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nên sống có chánh niệm, có tỉnh giác. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các vị.” Hết bài kinh thứ năm.