- Saṁyutta Nikāya 47.11
- 2. Nālandavagga
Bản dịch
SN 47.11 — Kinh Đại Nhân
Mahāpurisasutta
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến Thế Tôn … Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 : “Ðại nhân, đại nhân”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là đại nhân?
—Với tâm giải thoát, này Sāriputta, Ta gọi là đại nhân. Không có tâm giải thoát, Ta không gọi là đại nhân. Và này Sāriputta, thế nào là tâm giải thoát?
Vi-n 4 Ở đây, này Sāriputta, một Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ; … trú, quán thọ trên các thọ … trú, quán tâm trên tâm … trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Khi vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vi-n 5 Như vậy, này Sāriputta, là tâm giải thoát. Với tâm giải thoát, này Sāriputta, Ta gọi là đại nhân. Không có tâm giải thoát, Ta không gọi là đại nhân.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.11
- 2. At Nāḷandā
A Great Man
1. Kinh Đại Nhân
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“‘mahāpuriso, mahāpuriso’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, mahāpuriso hotī”ti?
“Vimuttacittattā khvāhaṁ, sāriputta, ‘mahāpuriso’ti vadāmi. Avimuttacittattā ‘no mahāpuriso’ti vadāmi.
At Sāvatthī.
Then Sāriputta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of ‘a great man’. How is a great man defined?”
“Sāriputta, someone whose mind is free is a great man, I say. If their mind is not free, I say they’re not a great man.
377. Nhân duyên ở Sāvatthī. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, người ta gọi là ‘bậc đại nhân, bậc đại nhân’. Bạch Thế Tôn, do mức độ nào mà một người trở thành bậc đại nhân?” “Này Sāriputta, do tâm được giải thoát mà Ta gọi là ‘bậc đại nhân’. Do tâm không được giải thoát mà Ta không gọi là ‘bậc đại nhân’.”
Kathañca, sāriputta, vimuttacitto hoti? Idha, sāriputta, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Tassa kāye kāyānupassino viharato cittaṁ virajjati, vimuccati anupādāya āsavehi. Vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Tassa dhammesu dhammānupassino viharato cittaṁ virajjati, vimuccati anupādāya āsavehi. Evaṁ kho, sāriputta, vimuttacitto hoti.
Vimuttacittattā khvāhaṁ, sāriputta, ‘mahāpuriso’ti vadāmi. Avimuttacittattā ‘no mahāpuriso’ti vadāmī”ti.
Paṭhamaṁ.
And how does someone have a free mind? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate observing an aspect of the body, their mind becomes dispassionate, and is freed from the defilements by not grasping. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate observing an aspect of principles, their mind becomes dispassionate, and is freed from the defilements by not grasping. That’s how someone has a free mind.
Someone whose mind is free is a great man, I say. If their mind is not free, I say they’re not a great man.”
“Này Sāriputta, thế nào là tâm được giải thoát? Này Sāriputta, ở đây, vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi loại bỏ tham và ưu ở đời. Đối với vị ấy đang trú quán thân trên thân, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Trên các cảm thọ... trên tâm... trên các pháp, vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi loại bỏ tham và ưu ở đời. Đối với vị ấy đang trú quán pháp trên các pháp, tâm được ly tham, được giải thoát khỏi các lậu hoặc do không còn chấp thủ. Này Sāriputta, như vậy là tâm được giải thoát. Này Sāriputta, do tâm được giải thoát mà Ta gọi là ‘bậc đại nhân’. Do tâm không được giải thoát mà Ta không gọi là ‘bậc đại nhân’.” Kinh thứ nhất.