- Saṁyutta Nikāya 47.10
- 1. Ambapālivagga
Bản dịch
SN 47.10 — Kinh Trú Xứ Của Tỳ Khưu Ni
Bhikkhunupassayasutta
Vi-n 1 Tại Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Rồi một số đông Tỷ-kheo-ni đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với Tôn giả Ānanda:
Vi-n 3 —Ở đây, bạch Thượng tọa Ānanda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết (sampajànanti) quảng đại, trước sau thù thắng.
—Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Ānanda với bài pháp thoại, sau khi tuyên thuyết cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 5 Rồi Tôn giả Ānanda sau khi đi khất thực ở Sāvatthi, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đến, con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông Tỷ-kheo-ni đi đến con, sau khi đến, đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, bạch Thế Tôn, các Tỷ-kheo-ni ấy thưa với con: “Ở đây, bạch Thượng tọa Ānanda, một số đông Tỷ-kheo-ni sống khéo an trú tâm trên bốn niệm xứ, đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng”. Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các Tỷ-kheo-ni ấy: “Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Như vậy là phải, này các Ðại tỷ! Này các Ðại tỷ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trong bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng”.
Vi-n 6 —Như vậy là phải, này Ānanda! Như vậy là phải, này Ānanda! Này Ānanda, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào sống với tâm khéo an trú trên bốn niệm xứ, vị ấy được chờ đợi sẽ đạt được sự rõ biết quảng đại, trước sau thù thắng. Thế nào là bốn?
Vi-n 7 Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán thân trên thân, hoặc thân sở duyên (kàyàrammano) khởi lên, hoặc thân nhiệt não (kàyasmin parilàho), hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán hướng ngoại (bahiddha va cittam vikkhipati); do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín (pasàdaniyenimitta). Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan (pàmujjam: Thắng hỷ) sanh. Người có tâm hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có tâm khinh an, lạc thọ sanh. Người có tâm lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (patisamharàmi) (khỏi đối tượng tịnh tín)”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 8-9. Lại nữa, này Ānanda, Tỷ-kheo sống, quán thọ trên các thọ … sống, quán tâm trên tâm …
Vi-n 10 Vị ấy sống, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, hoặc thân sở duyên khởi lên, hoặc thân nhiệt não, hoặc tâm thụ động, hoặc tâm phân tán, hướng ngoại; do vậy, này Ānanda, Tỷ-kheo cần phải hướng tâm đến một tướng tịnh tín. Do vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín, hân hoan sanh. Người có hân hoan, hỷ sanh. Người có tâm hỷ, thân được khinh an. Người có thân khinh an, lạc thọ sanh. Người có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Vị ấy tư sát như sau: “Mục đích mà ta hướng tâm đến, mục đích ấy đã đạt được. Nay ta rút lui (khỏi đối tượng tướng tịnh tín)”. Vị ấy rút lui, không tầm, không tứ. Vị ấy rõ biết: “Không tầm, không tứ, nội tâm chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 11 Như vậy, này Ānanda, là sự tu tập về hướng tâm.
Vi-n 12 Và này Ānanda, thế nào là sự tu tập không có hướng tâm?
Vi-n 13 Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: “Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau (pacchàpure), nhưng được giải thoát, không có hướng tâm”. Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 14 Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: “Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước, hay cái gì ở sau, nhưng được giải thoát, không có hướng tâm”. Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 15 Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại, rõ biết: “Tâm ta không hướng ngoại”. Rồi vị ấy rõ biết: “Tâm ta không chấp thủ đối với cái gì ở trước … Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 16 Này Ānanda, Tỷ-kheo tâm không hướng ngoại … Rồi vị ấy rõ biết: “Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc”.
Vi-n 17 Như vậy, này Ānanda, là tu tập không có hướng tâm.
Vi-n 18 Như vậy, này Ānanda, Ta thuyết tu tập có hướng tâm; Ta thuyết tu tập không có hướng tâm. Những gì, này Ānanda, một bậc Ðạo Sư cần phải làm vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với các đệ tử, vì lòng từ mẫn khởi lên, những việc ấy, Ta đã làm cho các Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây. Ðây là những nhà trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda. Chớ có phóng dật. Chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Vi-n 19 Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 47.10
- 1. In Ambapālī’s Mango Grove
The Nuns’ Quarters
10. Kinh Trú Xứ Của Tỳ Khưu Ni
Atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho sambahulā bhikkhuniyo yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
Then Venerable Ānanda robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the nuns’ quarters, and sat down on the seat spread out. Then several nuns went up to Venerable Ānanda bowed, sat down to one side, and said to him:
376. Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda đắp y, mang bát và y, đi đến một trú xứ của các Tỳ khưu ni; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên một chỗ đã soạn sẵn. Rồi nhiều Tỳ khưu ni đi đến Tôn giả Ānanda; sau khi đến, họ đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỳ khưu ni ấy bạch với Tôn giả Ānanda:
“Idha, bhante ānanda, sambahulā bhikkhuniyo catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā viharantiyo uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ sañjānantī”ti.
“Evametaṁ, bhaginiyo, evametaṁ, bhaginiyo. Yo hi koci, bhaginiyo, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ: ‘uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ sañjānissatī’”ti.
“Honorable Ānanda, several nuns meditate with their minds firmly established in the four kinds of mindfulness meditation. They have realized a higher distinction than they had before.”
“That’s how it is, sisters! That’s how it is, sisters! Any monk or nun who meditates with their mind firmly established in the four kinds of mindfulness meditation can expect to realize a higher distinction than they had before.”
‘Thưa ngài Ānanda, ở đây, có nhiều tỳ-khưu-ni đang an trú với tâm khéo an lập trong bốn niệm xứ, đã nhận biết được sự thù thắng cao thượng hơn trước.’ ‘Này các chị, đúng vậy. Này các chị, đúng vậy! Này các chị, bất cứ tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni nào an trú với tâm khéo an lập trong bốn niệm xứ, vị ấy được mong đợi rằng: ‘Sẽ nhận biết được sự thù thắng cao thượng hơn trước.’’
Atha kho āyasmā ānando tā bhikkhuniyo dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. Atha kho āyasmā ānando sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then Ānanda educated, encouraged, fired up, and inspired those nuns with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left. Then Ānanda wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi trưởng lão Ānanda, sau khi dùng pháp thoại để chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ các vị tỳ-khưu-ni ấy, đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi. Rồi trưởng lão Ānanda, sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, đã đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đã đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên xong, trưởng lão Ānanda đã bạch với Thế Tôn điều này:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ. Atha kho, bhante, sambahulā bhikkhuniyo yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, tā bhikkhuniyo maṁ etadavocuṁ: ‘idha, bhante ānanda, sambahulā bhikkhuniyo catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā viharantiyo uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ sañjānantī’ti. Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, tā bhikkhuniyo etadavocaṁ: ‘evametaṁ, bhaginiyo, evametaṁ, bhaginiyo. Yo hi koci, bhaginiyo, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ—uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ sañjānissatī’”ti.
‘Bạch Thế Tôn, ở đây, vào buổi sáng, con đã đắp y, mang theo y bát, đi đến một trú xứ của tỳ-khưu-ni; sau khi đến, con đã ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Bạch Thế Tôn, rồi có nhiều tỳ-khưu-ni đã đi đến chỗ con; sau khi đến, đã đảnh lễ con rồi ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, ngồi xuống một bên xong, các vị tỳ-khưu-ni ấy đã nói với con điều này: ‘Thưa ngài Ānanda, ở đây, có nhiều tỳ-khưu-ni đang an trú với tâm khéo an lập trong bốn niệm xứ, đã nhận biết được sự thù thắng cao thượng hơn trước.’ Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con đã nói với các vị tỳ-khưu-ni ấy điều này: ‘Này các chị, đúng vậy. Này các chị, đúng vậy! Này các chị, bất cứ tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni nào an trú với tâm khéo an lập trong bốn niệm xứ, vị ấy được mong đợi rằng: ‘Sẽ nhận biết được sự thù thắng cao thượng hơn trước.’’
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda. Yo hi koci, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacitto viharati, tassetaṁ pāṭikaṅkhaṁ: ‘uḷāraṁ pubbenāparaṁ visesaṁ sañjānissati’.
“That’s so true, Ānanda! That’s so true! Any monk or nun who meditates with their mind firmly established in the four kinds of mindfulness meditation can expect to realize a higher distinction than they had before.
‘Này Ānanda, đúng vậy. Này Ānanda, đúng vậy! Này Ānanda, bất cứ tỳ-khưu hay tỳ-khưu-ni nào an trú với tâm khéo an lập trong bốn niệm xứ, vị ấy được mong đợi rằng: ‘Sẽ nhận biết được sự thù thắng cao thượng hơn trước.’
Katamesu catūsu? Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Tassa kāye kāyānupassino viharato kāyārammaṇo vā uppajjati kāyasmiṁ pariḷāho, cetaso vā līnattaṁ, bahiddhā vā cittaṁ vikkhipati.
What four? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate observing an aspect of the body, based on the body there arises sweltering in the body, or mental sluggishness, or the mind is externally scattered.
‘Trong bốn pháp nào? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ-khưu an trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trong khi vị ấy an trú quán thân trên thân, hoặc đối tượng về thân khởi lên, hoặc sự phiền muộn nơi thân, hoặc tâm co rút, hoặc tâm phóng dật ra bên ngoài. Này Ānanda, khi ấy, vị tỳ-khưu nên hướng tâm đến một tướng tịnh tín nào đó. Khi vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín nào đó, hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi ý có hỷ, thân được khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh. Vị ấy suy xét như sau: ‘Mục đích mà ta đã hướng tâm đến, mục đích ấy của ta đã được thành tựu. Thôi, bây giờ ta hãy rút lui.’ Vị ấy vừa rút lui, vừa không tầm, không tứ. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Ta không tầm, không tứ, chánh niệm nội tâm, ta có lạc.’
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Tassa dhammesu dhammānupassino viharato dhammārammaṇo vā uppajjati kāyasmiṁ pariḷāho, cetaso vā līnattaṁ, bahiddhā vā cittaṁ vikkhipati. Tenānanda, bhikkhunā kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṁ paṇidahitabbaṁ. Tassa kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṁ paṇidahato pāmojjaṁ jāyati. Pamuditassa pīti jāyati. Pītimanassa kāyo passambhati. Passaddhakāyo sukhaṁ vedayati. Sukhino cittaṁ samādhiyati. So iti paṭisañcikkhati: ‘yassa khvāhaṁ atthāya cittaṁ paṇidahiṁ, so me attho abhinipphanno. Handa dāni paṭisaṁharāmī’ti. So paṭisaṁharati ceva na ca vitakketi na ca vicāreti. ‘Avitakkomhi avicāro, ajjhattaṁ satimā sukhamasmī’ti pajānāti. Evaṁ kho, ānanda, paṇidhāya bhāvanā hoti.
Furthermore, a mendicant meditates by observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. As they meditate observing an aspect of principles, based on principles there arises sweltering in the body, or mental sluggishness, or the mind is externally scattered. That mendicant should direct their mind toward an inspiring subject as a basis for meditation. As they do so, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, one feels bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi. Then they reflect: ‘I have accomplished the goal for which I directed my mind. Let me now relax.’ They relax, and neither place the mind nor keep it connected. They understand: ‘I’m neither placing the mind nor keeping it connected. Mindful within myself, I’m happy.’ That’s how there is directed development.
‘Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-khưu an trú quán thọ trên các thọ… … an trú quán tâm trên tâm… … an trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trong khi vị ấy an trú quán pháp trên các pháp, hoặc đối tượng về pháp khởi lên, hoặc sự phiền muộn nơi thân, hoặc tâm co rút, hoặc tâm phóng dật ra bên ngoài. Này Ānanda, khi ấy, vị tỳ-khưu nên hướng tâm đến một tướng tịnh tín nào đó. Khi vị ấy hướng tâm đến một tướng tịnh tín nào đó, hân hoan sanh khởi. Khi đã hân hoan, hỷ sanh khởi. Khi ý có hỷ, thân được khinh an. Khi thân khinh an, vị ấy cảm nhận được lạc. Khi có lạc, tâm được định tĩnh. Vị ấy suy xét như sau: ‘Mục đích mà ta đã hướng tâm đến, mục đích ấy của ta đã được thành tựu. Thôi, bây giờ ta hãy rút lui.’ Vị ấy vừa rút lui, vừa không tầm, không tứ. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Ta không tầm, không tứ, chánh niệm nội tâm, ta có lạc.’ Này Ānanda, như vậy là sự tu tập có định hướng.
Kathañcānanda, appaṇidhāya bhāvanā hoti? Bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṁ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṁ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. Atha pacchāpure ‘asaṅkhittaṁ vimuttaṁ appaṇihitan’ti pajānāti. Atha ca pana ‘kāye kāyānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. Bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṁ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṁ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. Atha pacchāpure ‘asaṅkhittaṁ vimuttaṁ appaṇihitan’ti pajānāti. Atha ca pana ‘vedanāsu vedanānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. Bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṁ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṁ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. Atha pacchāpure ‘asaṅkhittaṁ vimuttaṁ appaṇihitan’ti pajānāti. Atha ca pana ‘citte cittānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. Bahiddhā, ānanda, bhikkhu cittaṁ appaṇidhāya ‘appaṇihitaṁ me bahiddhā cittan’ti pajānāti. Atha pacchāpure ‘asaṅkhittaṁ vimuttaṁ appaṇihitan’ti pajānāti. Atha ca pana ‘dhammesu dhammānupassī viharāmi ātāpī sampajāno satimā sukhamasmī’ti pajānāti. Evaṁ kho, ānanda, appaṇidhāya bhāvanā hoti.
And how is there undirected development? Not directing their mind externally, a mendicant understands: ‘My mind is not directed externally.’ And they understand: ‘Before and behind, it’s unconstricted, freed, and undirected.’ And they also understand: ‘I meditate observing an aspect of the body—keen, aware, mindful; I am happy.’ Not directing their mind externally, a mendicant understands: ‘My mind is not directed externally.’ And they understand: ‘Before and behind, it’s unconstricted, freed, and undirected.’ And they also understand: ‘I meditate observing an aspect of feelings—keen, aware, mindful; I am happy.’ Not directing their mind externally, a mendicant understands: ‘My mind is not directed externally.’ And they understand: ‘Before and behind, it’s unconstricted, freed, and undirected.’ And they also understand: ‘I meditate observing an aspect of the mind—keen, aware, mindful; I am happy.’ Not directing their mind externally, a mendicant understands: ‘My mind is not directed externally.’ And they understand: ‘Before and behind, it’s unconstricted, freed, and undirected.’ And they also understand: ‘I meditate observing an aspect of principles—keen, aware, mindful; I am happy.’ That’s how there is undirected development.
“Này Ānanda, thế nào là sự tu tập không hướng đến? Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu không hướng tâm ra bên ngoài, vị ấy biết rằng: ‘Tâm của ta không hướng ra bên ngoài’. Rồi sau đó và trước đó, vị ấy biết rằng: ‘(Tâm) không co rút, được giải thoát, không hướng đến’. Và rồi, vị ấy biết rằng: ‘Ta trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc’. Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu không hướng tâm ra bên ngoài, vị ấy biết rằng: ‘Tâm của ta không hướng ra bên ngoài’. Rồi sau đó và trước đó, vị ấy biết rằng: ‘(Tâm) không co rút, được giải thoát, không hướng đến’. Và rồi, vị ấy biết rằng: ‘Ta trú, quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc’. Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu không hướng tâm ra bên ngoài, vị ấy biết rằng: ‘Tâm của ta không hướng ra bên ngoài’. Rồi sau đó và trước đó, vị ấy biết rằng: ‘(Tâm) không co rút, được giải thoát, không hướng đến’. Và rồi, vị ấy biết rằng: ‘Ta trú, quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc’. Này Ānanda, ở đây, vị tỳ khưu không hướng tâm ra bên ngoài, vị ấy biết rằng: ‘Tâm của ta không hướng ra bên ngoài’. Rồi sau đó và trước đó, vị ấy biết rằng: ‘(Tâm) không co rút, được giải thoát, không hướng đến’. Và rồi, vị ấy biết rằng: ‘Ta trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, ta được an lạc’. Này Ānanda, như vậy là sự tu tập không hướng đến.”
Iti kho, ānanda, desitā mayā paṇidhāya bhāvanā, desitā appaṇidhāya bhāvanā. Yaṁ, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyathānanda, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
So, Ānanda, I’ve taught you directed development and undirected development. Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
“Này Ānanda, như vậy, Ta đã thuyết giảng về sự tu tập có hướng đến, và Ta đã thuyết giảng về sự tu tập không hướng đến. Này Ānanda, những gì bậc Đạo Sư phải làm cho các đệ tử, vì lòng bi mẫn, do lòng thương tưởng, việc ấy Ta đã làm cho các ngươi. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống! Này Ānanda, hãy thiền định, chớ có dễ duôi; sau này chớ có hối hận! Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi.”
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Dasamaṁ.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Thế Tôn đã nói như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. Kinh thứ mười.
Ambapālivaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Ambapāli, thứ nhất.
Ambapāli sato bhikkhu, Sālā kusalarāsi ca; Sakuṇagghi makkaṭo sūdo, Gilāno bhikkhunupassayoti.
Ambapāli, Sato, Bhikkhu, Sālā và Kusalarāsi; Sakuṇagghi, Makkaṭa, Sūda, Gilāna, Bhikkhunupassaya.