- Saṁyutta Nikāya 46.8
- 1. Pabbatavagga
Bản dịch
SN 46.8 — Kinh Upavāna
Upavānasutta
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Upavāna và Tôn giả Sāriputta sống ở Kosambi, tại vườn Ghosita.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Upavāna; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Upavāna những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upavāna.
Vi-n 3 —Thưa Hiền giả Upavāna, Tỷ-kheo có thể biết được chăng, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú?
Vi-n 4 —Thưa Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo bắt đầu trong ta, đưa đến lạc trú. Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu niệm giác chi, biết được: “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn giác chi đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng (atthikatvà), ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất (linàm)” … Thưa Hiền giả, Tỷ-kheo chỉ bắt đầu xả giác chi, biết được: “Tâm ta được khéo giải thoát. Hôn trầm thụy miên trong ta được khéo nhổ sạch. Trạo hối trong ta được khéo điều phục. Tinh tấn giác chi đã bắt đầu trong ta. Lấy giác chi ấy làm đối tượng, ta dụng tâm tác ý. Giác chi ấy không có thối thất”. Cũng vậy, thưa Hiền giả Sāriputta, Tỷ-kheo có thể biết được, do tự mình như lý tác ý, bảy giác chi được khéo an trú trong ta, đưa đến lạc trú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.8
- 1. Mountains
With Upavāṇa
8. Kinh Upavāna
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ca upavāno āyasmā ca sāriputto kosambiyaṁ viharanti ghositārāme. Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā upavāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā upavānena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ upavānaṁ etadavoca:
At one time the venerables Upavāṇa and Sāriputta were staying near Kosambī in Ghosita’s monastery. Then in the late afternoon, Venerable Sāriputta came out of retreat, went to Venerable Upavāṇa and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Upavāṇa:
189. Một thời, Tôn giả Upavāna và Tôn giả Sāriputta trú tại Kosambī, ở tu viện Ghosita. Rồi Tôn giả Sāriputta, vào buổi chiều, sau khi xuất khỏi nơi độc cư, đã đi đến chỗ Tôn giả Upavāna; sau khi đến, ngài đã cùng Tôn giả Upavāna trao đổi lời chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Upavāna điều này:
“Jāneyya nu kho, āvuso upavāna, bhikkhu ‘paccattaṁ yonisomanasikārā evaṁ susamāraddhā me satta bojjhaṅgā phāsuvihārāya saṁvattantī’”ti?
“Jāneyya kho, āvuso sāriputta, bhikkhu ‘paccattaṁ yonisomanasikārā evaṁ susamāraddhā me satta bojjhaṅgā phāsuvihārāya saṁvattantī’”ti.
“Reverend Upavāṇa, can a mendicant know that by investigating inside themselves, the seven awakening factors have been properly implemented so that they lead to living at ease?”
“They can, Reverend Sāriputta.
Này hiền giả Upavāna, liệu một vị tỳ khưu có thể tự mình biết được rằng: 'Do như lý tác ý, bảy giác chi này của ta đã được khéo khởi sự, đưa đến sự an lạc trú' hay không?' 'Thưa hiền giả Sāriputta, một vị tỳ khưu có thể tự mình biết được rằng: 'Do như lý tác ý, bảy giác chi này của ta đã được khéo khởi sự, đưa đến sự an lạc trú'.'
“Satisambojjhaṅgaṁ kho, āvuso, bhikkhu ārabbhamāno pajānāti ‘cittañca me suvimuttaṁ, thinamiddhañca me susamūhataṁ, uddhaccakukkuccañca me suppaṭivinītaṁ, āraddhañca me vīriyaṁ, aṭṭhiṁ katvā manasi karomi, no ca līnan’ti …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ āvuso, bhikkhu ārabbhamāno pajānāti ‘cittañca me suvimuttaṁ, thinamiddhañca me susamūhataṁ, uddhaccakukkuccañca me suppaṭivinītaṁ, āraddhañca me vīriyaṁ, aṭṭhiṁ katvā manasi karomi, no ca līnan’”ti.
“Evaṁ kho, āvuso sāriputta, bhikkhu jāneyya ‘paccattaṁ yonisomanasikārā evaṁ susamāraddhā me satta bojjhaṅgā phāsuvihārāya saṁvattantī’”ti.
Aṭṭhamaṁ.
As a mendicant rouses up the awakening factor of mindfulness, they understand: ‘My mind is well freed. I’ve eradicated dullness and drowsiness, and eliminated restlessness and remorse. My energy is roused up, and my mind is sharply focused, not sluggish.’ …
As they rouse up the awakening factor of equanimity, they understand: ‘My mind is well freed. I’ve eradicated dullness and drowsiness, and eliminated restlessness and remorse. My energy is roused up, and my mind is sharply focused, not sluggish.’
That’s how a mendicant can know that by investigating inside themselves, the seven awakening factors are properly implemented so that they lead to living at ease.”
“Này hiền giả, một vị tỳ-khưu khi bắt đầu nỗ lực về niệm giác chi thì biết rõ rằng: ‘Tâm của ta đã được khéo giải thoát, hôn trầm thụy miên của ta đã được khéo nhổ sạch, trạo cử hối quá của ta đã được khéo dẹp yên, tinh tấn của ta đã được khởi xướng, ta chú tâm một cách tha thiết và không có thụ động.’ ... (như trên) ... Này hiền giả, một vị tỳ-khưu khi bắt đầu nỗ lực về xả giác chi thì biết rõ rằng: ‘Tâm của ta đã được khéo giải thoát, hôn trầm thụy miên của ta đã được khéo nhổ sạch, trạo cử hối quá của ta đã được khéo dẹp yên, tinh tấn của ta đã được khởi xướng, ta chú tâm một cách tha thiết và không có thụ động.’ Này hiền giả Sāriputta, chính như vậy vị tỳ-khưu nên biết rằng: ‘Do sự như lý tác ý của chính mình, bảy giác chi này của ta đã được khéo khởi xướng như vậy, dẫn đến sự an lạc trú.’” (Kinh thứ tám).