- Saṁyutta Nikāya 46.6
- 1. Pabbatavagga
Bản dịch
SN 46.6 — Kinh Kuṇḍaliya
Kuṇḍaliyasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāketa, tại rừng Ancana, vườn Lộc Uyển.
Vi-n 2 Rồi du sĩ Kundaliya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Thưa Tôn giả Gotama, tôi sống gần khu vườn, giao du với hội chúng. Sau khi ăn buổi sáng xong, thưa Tôn giả Gotama, như sau là sở hành (àcàra) của tôi. Tôi bộ hành, tôi du hành, từ khóm vườn này qua khóm vườn khác, từ khu vườn này qua khu vườn khác. Tại đấy, tôi thấy một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về lợi ích thoát ly các tranh luận (itivàdapamokkànisamsam) và lợi ích cật vấn (upàrambhànisamsam). Còn Tôn giả Gotama sống có lợi ích gì?
—Này Kundaliya, Như Lai có quả lợi ích của minh và giải thoát (vịjjàvimuttiphalà—nisamsam).
Vi-n 4 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn khiến cho minh và giải thoát được viên mãn?
—Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 5 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn?
—Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 6 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn?
—Này Kundaliya, ba thiện hành (sucaritàni) được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 7 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
—Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến cho ba thiện hành được viên mãn. Nhưng này Kundaliya, hộ trì căn tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho ba thiện hành được viên mãn?
Vi-n 8 Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý không có tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục (ràga) khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và khi mắt thấy sắc không khả ý, không có tuyệt vọng (manku), tâm không có dao động, ý không có chán nản (àdìnamànaso), tâm không có tức tối (avyàpannàcetaso). Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 9-12. Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc …
Vi-n 13 Lại nữa, này Kundaliya, Tỷ-kheo khi ý biết pháp khả ý, không tham trước, không có hoan hỷ, không để tham dục khởi lên. Thân của vị ấy được an trú, tâm an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát. Và Tỷ-kheo khi ý biết pháp không khả ý, không có tuyệt vọng, tâm không có dao động, ý không có chán nản, tâm không có tức tối. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội phần khéo an trú, khéo giải thoát.
Vi-n 14 Này Kundaliya, khi nào Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, đối với sắc khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát … khi tai nghe tiếng … khi mũi ngửi hương … khi lưỡi nếm vị … khi thân cảm xúc … khi ý biết pháp, đối với các pháp khả ý hay không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội phần được khéo an trú, khéo giải thoát. Này Kundaliya, hộ trì căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho ba thiện hành được viên mãn.
Vi-n 15 Và này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo đoạn tận thân ác hành, tu tập thân thiện hành; đoạn tận khẩu ác hành, tu tập khẩu thiện hành; đoạn tận ý ác hành, tu tập ý thiện hành. Này Kundaliya, ba thiện hành được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho bốn niệm xứ được viên mãn.
Vi-n 16 Và này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho bảy giác chi được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kundaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy khiến cho bảy giác chi được viên mãn.
Vi-n 17 Và này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn? Ở đây, này Kundaliya, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ … tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này Kundaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, khiến cho minh và giải thoát được viên mãn.
Vi-n 18 Khi được nói vậy, du sĩ Kundaliya bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama … từ nay cho đến trọn đời con xin quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.6
- 1. Mountains
Kuṇḍaliya
6. Kinh Kuṇḍaliya
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye. Atha kho kuṇḍaliyo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahamasmi, bho gotama, ārāmanissayī parisāvacaro. Tassa mayhaṁ, bho gotama, pacchābhattaṁ bhuttapātarāsassa ayamācāro hoti—ārāmena ārāmaṁ uyyānena uyyānaṁ anucaṅkamāmi anuvicarāmi. So tattha passāmi eke samaṇabrāhmaṇe itivādappamokkhānisaṁsañceva kathaṁ kathente upārambhānisaṁsañca: ‘bhavaṁ pana gotamo kimānisaṁso viharatī’”ti?
“Vijjāvimuttiphalānisaṁso kho, kuṇḍaliya, tathāgato viharatī”ti.
At one time the Buddha was staying near Sāketa in the deer park at the Añjana Wood. Then the wanderer Kuṇḍaliya went up to the Buddha, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, I like to hang around the monasteries and visit the assemblies. When I’ve finished breakfast, it’s my habit to wander from monastery to monastery, from park to park. There I see some ascetics and brahmins speaking for the sake of winning debates and finding fault. But what benefit does the worthy Gotama live for?”
“The benefit the Realized One lives for, Kuṇḍaliya, is the fruit of knowledge and freedom.”
187. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāketa, tại rừng Añjana, trong khu vườn Lộc Uyển. Rồi du sĩ Kuṇḍaliya đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn nói lên lời chào hỏi. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ Kuṇḍaliya bạch với Thế Tôn rằng: “Thưa ngài Gotama, tôi là người thường ở trong các khu vườn, thường đi lại trong các hội chúng. Thưa ngài Gotama, sau bữa ăn, sau khi đã dùng bữa sáng, tôi có thói quen này: tôi đi kinh hành, đi dạo từ khu vườn này đến khu vườn khác, từ công viên này đến công viên khác. Ở đó, tôi thấy một số sa-môn, bà-la-môn nói những lời có lợi ích là thoát khỏi sự tranh luận như thế này và có lợi ích là chỉ trích người khác. Còn ngài Gotama, ngài an trú với lợi ích gì?” “Này Kuṇḍaliya, Như Lai an trú với lợi ích là quả của minh và giải thoát.”
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti?
“Satta kho, kuṇḍaliya, bojjhaṅgā bhāvitā bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti?
“Cattāro kho, kuṇḍaliya, satipaṭṭhānā bhāvitā bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā, bahulīkatā cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti?
“Tīṇi kho, kuṇḍaliya, sucaritāni bhāvitāni bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrentī”ti.
“Katame pana, bho gotama, dhammā bhāvitā bahulīkatā tīṇi sucaritāni paripūrentī”ti?
“Indriyasaṁvaro kho, kuṇḍaliya, bhāvito bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti.
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill knowledge and freedom?”
“The seven awakening factors.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the seven awakening factors?”
“The four kinds of mindfulness meditation.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the four kinds of mindfulness meditation?”
“The three kinds of good conduct.”
“But what things must be developed and cultivated in order to fulfill the three kinds of good conduct?”
“Sense restraint.
“Thưa ngài Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn minh và giải thoát?” “Này Kuṇḍaliya, bảy giác chi được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn minh và giải thoát.” “Thưa ngài Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn bảy giác chi?” “Này Kuṇḍaliya, bốn niệm xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn bảy giác chi.” “Thưa ngài Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn bốn niệm xứ?” “Này Kuṇḍaliya, ba thiện hạnh được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn bốn niệm xứ.” “Thưa ngài Gotama, những pháp nào được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn ba thiện hạnh?” “Này Kuṇḍaliya, sự phòng hộ các căn được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ làm viên mãn ba thiện hạnh.”
Kathaṁ bhāvito ca, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro kathaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūretīti? Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu cakkhunā rūpaṁ disvā manāpaṁ nābhijjhati nābhihaṁsati, na rāgaṁ janeti. Tassa ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ. Cakkhunā kho paneva rūpaṁ disvā amanāpaṁ na maṅku hoti appatiṭṭhitacitto adīnamānaso abyāpannacetaso. Tassa ṭhito ca kāyo hoti ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ.
Puna caparaṁ, kuṇḍaliya, bhikkhu sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
And Kuṇḍaliya, how is sense restraint developed and cultivated so as to fulfill the three kinds of good conduct? A mendicant sees an agreeable sight with their eyes. They don’t desire it or enjoy it, and they don’t give rise to greed. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed. But if they see a disagreeable sight they’re undismayed, with mind unirritated, spirit undaunted, and heart unangered. Their mind and body are steady internally, well settled and well freed.
Furthermore, a mendicant hears an agreeable sound with their ears … smells an agreeable odor with their nose … tastes an agreeable flavor with their tongue … encounters an agreeable touch with their body …
“Này Kuṇḍaliya, sự phòng hộ các căn được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, sẽ làm viên mãn ba thiện hạnh? Ở đây, này Kuṇḍaliya, vị tỳ khưu sau khi thấy sắc khả ý bằng mắt, không tham đắm, không vui mừng, không khởi lên tham ái. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an lập, được khéo giải thoát. Và sau khi thấy sắc không khả ý bằng mắt, vị ấy không bị bối rối, tâm không dao động, không có tâm trí hèn hạ, không có tâm sân hận. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an lập, được khéo giải thoát.
Này Kuṇḍaliya, lại nữa, vị tỳ khưu sau khi dùng tai nghe tiếng... (v.v)... sau khi dùng mũi ngửi mùi... sau khi dùng lưỡi nếm vị... sau khi dùng thân xúc chạm... (v.v)... sau khi dùng ý biết được pháp khả ý thì không tham đắm, không hoan hỷ, không sanh khởi tham ái. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an trú, được khéo giải thoát. Và sau khi dùng ý biết được pháp không khả ý thì vị ấy không bị bối rối, tâm không bị dao động, tâm không bị khốn khổ, tâm không bị sân hận. Thân của vị ấy được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an trú, được khéo giải thoát.
Yato kho, kuṇḍaliya, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā manāpāmanāpesu rūpesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ. Sotena saddaṁ sutvā …pe… ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe… jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe… kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe… manasā dhammaṁ viññāya manāpāmanāpesu dhammesu ṭhito ca kāyo hoti, ṭhitaṁ cittaṁ ajjhattaṁ susaṇṭhitaṁ suvimuttaṁ. Evaṁ bhāvito kho, kuṇḍaliya, indriyasaṁvaro evaṁ bahulīkato tīṇi sucaritāni paripūreti.
When a mendicant’s mind and body are steady internally, they’re well settled and well freed when it comes to both agreeable and disagreeable sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. That’s how sense restraint is developed and cultivated so as to fulfill the three kinds of good conduct.
Này Kuṇḍaliya, khi vị tỳ khưu sau khi dùng mắt thấy sắc, đối với các sắc khả ý và không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an trú, được khéo giải thoát. Sau khi dùng tai nghe tiếng... (v.v)... sau khi dùng mũi ngửi mùi... (v.v)... sau khi dùng lưỡi nếm vị... (v.v)... sau khi dùng thân xúc chạm... (v.v)... sau khi dùng ý biết được pháp, đối với các pháp khả ý và không khả ý, thân được an trú, tâm được an trú, nội tâm được khéo an trú, được khéo giải thoát. Này Kuṇḍaliya, sự thu thúc các căn được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, sẽ làm cho viên mãn ba thiện hạnh.
Kathaṁ bhāvitāni ca, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni kathaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti? Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāyaduccaritaṁ pahāya kāyasucaritaṁ bhāveti, vacīduccaritaṁ pahāya vacīsucaritaṁ bhāveti, manoduccaritaṁ pahāya manosucaritaṁ bhāveti. Evaṁ bhāvitāni kho, kuṇḍaliya, tīṇi sucaritāni evaṁ bahulīkatāni cattāro satipaṭṭhāne paripūrenti.
And how are the three kinds of good conduct developed and cultivated so as to fulfill the four kinds of mindfulness meditation? A mendicant gives up bad conduct by way of body, speech, and mind, and develops good conduct by way of body, speech, and mind. That’s how the three kinds of good conduct are developed and cultivated so as to fulfill the four kinds of mindfulness meditation.
Này Kuṇḍaliya, ba thiện hạnh được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, sẽ làm cho viên mãn bốn niệm xứ? Này Kuṇḍaliya, ở đây, vị tỳ khưu từ bỏ thân ác hạnh, tu tập thân thiện hạnh; từ bỏ khẩu ác hạnh, tu tập khẩu thiện hạnh; từ bỏ ý ác hạnh, tu tập ý thiện hạnh. Này Kuṇḍaliya, ba thiện hạnh được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, sẽ làm cho viên mãn bốn niệm xứ.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā kathaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti? Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu …pe… citte …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, cattāro satipaṭṭhānā evaṁ bahulīkatā satta bojjhaṅge paripūrenti.
And how are the four kinds of mindfulness meditation developed and cultivated so as to fulfill the seven awakening factors? A mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … mind … principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how the four kinds of mindfulness meditation are developed and cultivated so as to fulfill the seven awakening factors.
Này Kuṇḍaliya, bốn niệm xứ được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, sẽ làm cho viên mãn bảy giác chi? Này Kuṇḍaliya, ở đây, vị tỳ khưu sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời; đối với các cảm thọ... (v.v)... đối với các pháp, sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Kuṇḍaliya, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, sẽ làm cho viên mãn bảy giác chi.
Kathaṁ bhāvitā ca, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā kathaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrenti? Idha, kuṇḍaliya, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ …pe… upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ. Evaṁ bhāvitā kho, kuṇḍaliya, satta bojjhaṅgā evaṁ bahulīkatā vijjāvimuttiṁ paripūrentī”ti.
And how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to fulfill knowledge and freedom? A mendicant develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go. That’s how the seven awakening factors are developed and cultivated so as to fulfill knowledge and freedom.”
Này Kuṇḍaliya, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, sẽ làm cho viên mãn minh và giải thoát? Này Kuṇḍaliya, ở đây, vị tỳ khưu tu tập niệm giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly... (v.v)... tu tập xả giác chi, y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào đoạn diệt, hướng đến xả ly. Này Kuṇḍaliya, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, sẽ làm cho viên mãn minh và giải thoát.
Evaṁ vutte, kuṇḍaliyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama. Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
When he said this, the wanderer Kuṇḍaliya said to the Buddha, “Excellent, worthy Gotama! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, du sĩ Kuṇḍaliya bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, cũng như người ta có thể lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy được các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama trình bày bằng nhiều phương tiện. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ khưu Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cận sự nam, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.' Kinh thứ sáu.