- Saṁyutta Nikāya 46.26
- 3. Udāyivagga
Bản dịch
SN 46.26 — Kinh Đoạn Tận Ái
Taṇhakkhayasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái, hãy tu tập con đường ấy, đạo lộ ấy.
Vi-n 3 Và con đường nào, đạo lộ nào, này các Tỷ-kheo, đưa đến đoạn tận khát ái? Tức là bảy giác chi. Thế nào là bảy? Niệm giác chi … xả giác chi.
Vi-n 4 Khi được nói vậy, Tôn giả Udāyi bạch Thế Tôn:
—Tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào, bạch Thế Tôn, bảy giác chi đưa đến đoạn tận khát ái?
Vi-n 5 —Ở đây, này Udāyi, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.
Vi-n 6-11. … trạch pháp giác chi … tinh tấn giác chi … hỷ giác chi … khinh an giác chi … định giác chi …
Vi-n 12 Ở đây, Tỷ-kheo tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân. Ðối với vị tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, quảng đại, to lớn, vô lượng, không sân thì khát ái được đoạn tận. Do khát ái được đoạn tận nên nghiệp được đoạn tận. Do nghiệp được đoạn tận nên khổ được đoạn tận.
Vi-n 13 Như vậy, này Udāyi, do khát ái đoạn tận nên nghiệp đoạn tận. Do nghiệp đoạn tận nên khổ đoạn tận.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 46.26
- 3. With Udāyī
The Ending of Craving
6. Kinh Đoạn Tận Ái
“Yo, bhikkhave, maggo yā paṭipadā taṇhakkhayāya saṁvattati, taṁ maggaṁ taṁ paṭipadaṁ bhāvetha. Katamo ca, bhikkhave, maggo katamā ca paṭipadā taṇhakkhayāya saṁvattati? Yadidaṁ—satta bojjhaṅgā. Katame satta? Satisambojjhaṅgo …pe… upekkhāsambojjhaṅgo”ti. Evaṁ vutte, āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
“kathaṁ bhāvitā nu kho, bhante, satta bojjhaṅgā, kathaṁ bahulīkatā taṇhakkhayāya saṁvattantī”ti?
“Mendicants, you should develop the path and the practice that leads to the ending of craving. And what is the path and the practice that leads to the ending of craving? It is the seven awakening factors. What seven? The awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity.” When he said this, Udāyī said to him:
“Sir, how are the seven awakening factors developed and cultivated so as to lead to the ending of craving?”
207. “Này các Tỳ khưu, con đường nào, con đường thực hành nào đưa đến sự đoạn tận ái, hãy tu tập con đường ấy, con đường thực hành ấy. Và này các Tỳ khưu, con đường nào, con đường thực hành nào đưa đến sự đoạn tận ái? Tức là – bảy giác chi. Bảy (giác chi) là những gì? Niệm giác chi... cho đến... xả giác chi.” Khi được nói như vậy, Tôn giả Udāyī đã bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, bảy giác chi được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào để đưa đến sự đoạn tận ái?”
“Idha, udāyi, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ vipulaṁ mahaggataṁ appamāṇaṁ abyāpajjaṁ. Tassa satisambojjhaṅgaṁ bhāvayato vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ vipulaṁ mahaggataṁ appamāṇaṁ abyāpajjaṁ taṇhā pahīyati. Taṇhāya pahānā kammaṁ pahīyati. Kammassa pahānā dukkhaṁ pahīyati …pe…
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ vipulaṁ mahaggataṁ appamāṇaṁ abyāpajjaṁ. Tassa upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvayato vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ vipulaṁ mahaggataṁ appamāṇaṁ abyāpajjaṁ taṇhā pahīyati taṇhāya pahānā kammaṁ pahīyati. Kammassa pahānā dukkhaṁ pahīyati.
Iti kho, udāyi, taṇhakkhayā kammakkhayo, kammakkhayā dukkhakkhayo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“Udāyī, it’s when a mendicant develops the awakening factor of mindfulness, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. As they do so, craving is given up. When craving is given up, deeds are given up. When deeds are given up, suffering is given up. …
A mendicant develops the awakening factor of equanimity, which relies on seclusion, fading away, and cessation, and ripens as letting go. And it is abundant, expansive, limitless, and free of ill will. As they do so, craving is given up. When craving is given up, deeds are given up. When deeds are given up, suffering is given up.
And so, Udāyī, when craving ends, deeds end; when deeds end suffering ends.”
“Này Udāyi, ở đây, vị Tỳ khưu tu tập niệm giác chi y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly, quảng đại, vô lượng, vô biên, không sân hận. Đối với vị ấy đang tu tập niệm giác chi y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly, quảng đại, vô lượng, vô biên, không sân hận, ái được đoạn trừ. Do sự đoạn trừ ái, nghiệp được đoạn trừ. Do sự đoạn trừ nghiệp, khổ được đoạn trừ... cho đến... vị ấy tu tập xả giác chi y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly, quảng đại, vô lượng, vô biên, không sân hận. Đối với vị ấy đang tu tập xả giác chi y cứ vào viễn ly, y cứ vào ly tham, y cứ vào sự diệt, hướng đến sự xả ly, quảng đại, vô lượng, vô biên, không sân hận, ái được đoạn trừ; do sự đoạn trừ ái, nghiệp được đoạn trừ; do sự đoạn trừ nghiệp, khổ được đoạn trừ. Này Udāyi, như vậy, do đoạn tận ái nên có sự đoạn tận nghiệp, do đoạn tận nghiệp nên có sự đoạn tận khổ.” (Kinh) thứ sáu.