- Saṁyutta Nikāya 45.34
- 4. Paṭipattivagga
Bản dịch
SN 45.34 — Kinh Đi Đến Bờ Kia
Pāraṅgamasutta
Vi-n 1-2. Tại Sāvatthi …
Vi-n 3 —Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia (apàràpa ramgamanàya). Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến … chánh định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Vi-n 4 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~1 Ít thay là những người,
Ðạt đến bờ bên kia.
Phần lớn quần chúng khác,
Chạy qua lại bờ này.Vi-n 2~2 Những ai theo thuyết giảng,
Chánh pháp khéo tuyên thuyết,
Họ đến bờ bên kia,
Khéo vượt cảnh giới Ma.Vi-n 3~3 Ðoạn tận các hắc pháp,
Bậc trí tu bạch pháp,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Trong độc cư, khó lạc.Vi-n 4~4 Ở đây, muốn hưởng lạc,
Hãy bỏ mọi dục vọng,
Bậc trí tự thanh lọc,
Tự tâm khỏi phiền não.Vi-n 5~5 Những ai khéo tu tập,
Chánh tâm trong giác chi,
Từ bỏ các chấp trước,
Hoan hỷ không chấp thủ,
Lậu hoặc tận, chói sáng,
Ðạt tịch tịnh ở đời.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 45.34
- 4. Practice
Going to the Far Shore
4. Kinh Đi Đến Bờ Kia
Sāvatthinidānaṁ.
“Aṭṭhime, bhikkhave, dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattanti. Katame aṭṭha? Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi. Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā bhāvitā bahulīkatā apārā pāraṁ gamanāya saṁvattantī”ti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, when these eight things are developed and cultivated they lead to going from the near shore to the far shore. What eight? They are right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion. When these eight things are developed and cultivated they lead to going from the near shore to the far shore.”
34. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, tám pháp này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Tám pháp nào? Tức là: Chánh kiến... cho đến... Chánh định. Này các Tỳ khưu, tám pháp này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.
Idamavoca bhagavā. Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
That is what the Buddha said. Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
Thế Tôn đã nói điều này. Sau khi nói điều này, bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư lại nói thêm điều này:
“Appakā te manussesu, ye janā pāragāmino; Athāyaṁ itarā pajā, tīramevānudhāvati.
“Few are those among humans who cross to the far shore. The rest just run around on the near shore.
“Trong loài người, ít thay là những người đến được bờ kia. Còn lại quần chúng khác chỉ chạy ngược xuôi trên bờ bên này.
Ye ca kho sammadakkhāte, dhamme dhammānuvattino; Te janā pāramessanti, maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
When the teaching is well explained, the people who practice accordingly will cross over Death’s dominion so hard to pass.
“Nhưng những ai thực hành đúng theo Pháp, khi Pháp được khéo giảng, những người ấy sẽ vượt qua vương quốc của tử thần, thật khó vượt qua, để đến bờ bên kia.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya, sukkaṁ bhāvetha paṇḍito; Okā anokamāgamma, viveke yattha dūramaṁ.
Rid of dark qualities, an astute person would develop the bright. Having left home for homelessness in seclusion, where joy is hard,
“Bậc trí từ bỏ pháp hắc ám, hãy tu tập pháp bạch tịnh. Từ bỏ nhà cửa, đến nơi không nhà, trong sự viễn ly, nơi khó tìm thấy lạc thú.
Tatrābhiratimiccheyya, hitvā kāme akiñcano; Pariyodapeyya attānaṁ, cittaklesehi paṇḍito.
they’d long for satisfaction there. Forsaking sensual pleasures, owning nothing, an astute person would cleanse themselves of mental corruptions.
“Ở đó, người ấy nên tìm cầu hỷ lạc. Từ bỏ các dục, không còn sở hữu, bậc trí nên thanh lọc tự thân khỏi những phiền não của tâm.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu, sammā cittaṁ subhāvitaṁ; Ādānapaṭinissagge, anupādāya ye ratā; Khīṇāsavā jutimanto, te loke parinibbutā”ti.
Catutthaṁ.
And those whose minds are rightly developed in the awakening factors; who, letting go of attachments, delight in not grasping—with defilements ended, brilliant, they are quenched in this world.”
“Những ai có tâm được khéo tu tập trong các giác chi, những ai không còn chấp thủ, hoan hỷ trong sự từ bỏ chấp thủ, những vị ấy, các lậu hoặc đã tận, sáng chói, đã đạt Niết Bàn trong thế gian này.” (Kinh) thứ tư.