- Saṁyutta Nikāya 45.139
- 11. Appamādapeyyālavagga
Bản dịch
SN 45.139 — Kinh Như Lai
Tathāgatasutta
I. Viễn Ly
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Cũng như, này các Tỷ-kheo, đối với tất cả loại hữu tình không chân, hai chân bốn chân, hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay không có tưởng và không không có tưởng; Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thiện pháp gì, tất cả đều lấy không phóng dật làm căn bản, đều lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ. Không phóng dật được gọi là tối thượng đối với tất cả pháp ấy.
Vi-n 3 Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo tám ngành được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
Vi-n 4 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ … tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Vi-n 5 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. (Ba kinh khác về viễn ly, cũng được thuyết tương tự).
II. Nhiếp Phục Tham
Vi-n 9 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, lấy nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu cánh, lấy nhiếp phục si làm cứu cánh … tu tập chánh định, lấy nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu cánh, lấy nhiếp phục si làm cứu cánh …
III. Bất Tử
Vi-n 13 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, lấy bất tử làm chỗ hội nhập, lấy bất tử làm mục đích, lất bất tử làm cứu cánh... tu tập chánh định, lấy bất tử làm chỗ hội nhập, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.
IV. Niết Bàn
Vi-n 17 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn... tu tập chánh định thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn…
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh and Aminah Borg-Luck.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 45.139
- 11. Abbreviated Texts on Diligence
The Realized One
1. Kinh Như Lai
Sāvatthinidānaṁ.
At Sāvatthī.
139. Nhân duyên ở Sāvatthī. Này các Tỳ khưu, cho đến bao nhiêu chúng sanh, hoặc không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, trong số các chúng sanh ấy, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ pháp thiện nào, tất cả các pháp ấy đều có sự không dể duôi làm gốc rễ, đều quy tụ về sự không dể duôi; sự không dể duôi được gọi là tối thượng trong các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, điều này có thể được trông đợi ở vị Tỳ khưu không dể duôi: vị ấy sẽ tu tập Thánh đạo Tám ngành, vị ấy sẽ làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến y cứ vào sự viễn ly, y cứ vào sự ly tham, y cứ vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. ... cho đến ... vị ấy tu tập chánh định y cứ vào sự viễn ly, y cứ vào sự ly tham, y cứ vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly. Này các Tỳ khưu, chính như vậy, vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
“Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho; evameva kho, bhikkhave, ye keci kusalā dhammā, sabbe te appamādamūlakā appamādasamosaraṇā; appamādo tesaṁ dhammānaṁ aggamakkhāyati. Appamattassetaṁ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ—ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu appamatto ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
“Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. In the same way, all skillful qualities are rooted in diligence and meet at diligence, and diligence is said to be the best of them. A mendicant who is diligent can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.
And how does a mendicant who is diligent develop and cultivate the noble eightfold path?
Này các Tỳ khưu, cho đến bao nhiêu chúng sanh, hoặc không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, trong số các chúng sanh ấy, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ pháp thiện nào, tất cả các pháp ấy đều có sự không dể duôi làm gốc rễ, đều quy tụ về sự không dể duôi; sự không dể duôi được gọi là tối thượng trong các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, điều này có thể được trông đợi ở vị Tỳ khưu không dể duôi: vị ấy sẽ tu tập Thánh đạo Tám ngành, vị ấy sẽ làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến có sự nhiếp phục tham làm cứu cánh, có sự nhiếp phục sân làm cứu cánh, có sự nhiếp phục si làm cứu cánh. ... cho đến ... vị ấy tu tập chánh định có sự nhiếp phục tham làm cứu cánh, có sự nhiếp phục sân làm cứu cánh, có sự nhiếp phục si làm cứu cánh. Này các Tỳ khưu, chính như vậy, vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
140. “Này các tỳ khưu, ví như dấu chân của bất cứ loài chúng sanh nào đi trên mặt đất, tất cả các dấu chân ấy đều được thu nhiếp trong dấu chân voi; dấu chân voi được xem là tối thượng trong các dấu chân ấy, nghĩa là về phương diện to lớn; cũng vậy, này các tỳ khưu, bất cứ các pháp thiện nào, tất cả các pháp ấy đều có sự không dể duôi làm gốc rễ, có sự không dể duôi làm nơi quy tụ; sự không dể duôi được xem là tối thượng trong các pháp ấy. Này các tỳ khưu, đối với vị tỳ khưu không dể duôi, điều này được mong đợi – vị ấy sẽ tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, vị ấy sẽ làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu tu tập chánh kiến y cứ vào sự viễn ly, y cứ vào sự ly tham, y cứ vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly... cho đến... vị ấy tu tập chánh định y cứ vào sự viễn ly, y cứ vào sự ly tham, y cứ vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly... Này các tỳ khưu, chính là như vậy, vị tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành.” Kinh thứ hai.
Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho; evameva kho, bhikkhave, ye keci kusalā dhammā, sabbe te appamādamūlakā appamādasamosaraṇā; appamādo tesaṁ dhammānaṁ aggamakkhāyati. Appamattassetaṁ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ—ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati, ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu appamatto ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti? Idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ …pe… sammāsamādhiṁ bhāveti rāgavinayapariyosānaṁ dosavinayapariyosānaṁ mohavinayapariyosānaṁ.
Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. In the same way, all skillful qualities are rooted in diligence and meet at diligence, and diligence is said to be the best of them. A mendicant who is diligent can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.
And how does a mendicant who is diligent develop and cultivate the noble eightfold path? It’s when a mendicant develops right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion, which culminate in the removal of greed, hate, and delusion.
Này các Tỳ khưu, cho đến bao nhiêu chúng sanh, hoặc không chân, hoặc hai chân, hoặc bốn chân, hoặc nhiều chân, hoặc có sắc, hoặc không sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, trong số các chúng sanh ấy, Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, bất cứ pháp thiện nào, tất cả các pháp ấy đều có sự không dể duôi làm gốc rễ, đều quy tụ về sự không dể duôi; sự không dể duôi được gọi là tối thượng trong các pháp ấy. Này các Tỳ khưu, điều này có thể được trông đợi ở vị Tỳ khưu không dể duôi: vị ấy sẽ tu tập Thánh đạo Tám ngành, vị ấy sẽ làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn. ... cho đến ... vị ấy tu tập chánh định hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn. Này các Tỳ khưu, chính như vậy, vị Tỳ khưu không dể duôi tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Thứ nhất.
Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho; evameva kho, bhikkhave, ye keci kusalā dhammā, sabbe te appamādamūlakā appamādasamosaraṇā; appamādo tesaṁ dhammānaṁ aggamakkhāyati. Appamattassetaṁ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ—ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu appamatto ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. In the same way, all skillful qualities are rooted in diligence and meet at diligence, and diligence is said to be the best of them. A mendicant who is diligent can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.
And how does a mendicant who is diligent develop and cultivate the noble eightfold path?
149. Nhân duyên ở Sāvatthī. “Này các tỳ khưu, ví như bất cứ công việc nào cần dùng sức lực được thực hiện, tất cả các công việc ấy đều được thực hiện bằng cách y cứ vào mặt đất, đứng vững trên mặt đất; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu y cứ vào giới, đứng vững trong giới, tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu y cứ vào giới, đứng vững trong giới, tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành? Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu tu tập chánh kiến y cứ vào sự viễn ly, y cứ vào sự ly tham, y cứ vào sự đoạn diệt, hướng đến sự xả ly... cho đến... Này các tỳ khưu, chính là như vậy, vị tỳ khưu y cứ vào giới, đứng vững trong giới, tu tập Thánh Đạo Tám Ngành, làm cho sung mãn Thánh Đạo Tám Ngành.”
Yāvatā, bhikkhave, sattā apadā vā dvipadā vā catuppadā vā bahuppadā vā rūpino vā arūpino vā saññino vā asaññino vā nevasaññīnāsaññino vā, tathāgato tesaṁ aggamakkhāyati arahaṁ sammāsambuddho; evameva kho, bhikkhave, ye keci kusalā dhammā, sabbe te appamādamūlakā appamādasamosaraṇā; appamādo tesaṁ dhammānaṁ aggamakkhāyati. Appamattassetaṁ, bhikkhave, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ—ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvessati ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkarissati.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu appamatto ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāveti ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bahulīkaroti?
Mendicants, the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, is said to be the best of all sentient beings—be they footless, with two feet, four feet, or many feet; with form or formless; with perception or without perception or with neither perception nor non-perception. In the same way, all skillful qualities are rooted in diligence and meet at diligence, and diligence is said to be the best of them. A mendicant who is diligent can expect to develop and cultivate the noble eightfold path.
And how does a mendicant who is diligent develop and cultivate the noble eightfold path?
“Này các tỳ khưu, ví như bất cứ công việc nào cần dùng sức lực để thực hiện, tất cả những việc ấy đều được thực hiện bằng cách nương tựa vào đất, đứng vững trên đất; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập chánh kiến hướng đến Bất Tử, có Bất Tử làm đích đến, có Bất Tử làm cùng tận... cho đến... tu tập chánh định hướng đến Bất Tử, có Bất Tử làm đích đến, có Bất Tử làm cùng tận. Này các tỳ khưu, chính như vậy vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.”
“Này các tỳ khưu, ví như bất cứ công việc nào cần dùng sức lực để thực hiện, tất cả những việc ấy đều được thực hiện bằng cách nương tựa vào đất, đứng vững trên đất; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập chánh kiến hướng về Niết Bàn, xuôi về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn... cho đến... tu tập chánh định hướng về Niết Bàn, xuôi về Niết Bàn, nghiêng về Niết Bàn. Này các tỳ khưu, chính như vậy vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.” Kinh thứ nhất.
Paṭhamaṁ.
“Này các tỳ khưu, ví như bất cứ công việc nào cần dùng sức lực để thực hiện, tất cả những việc ấy đều được thực hiện bằng cách nương tựa vào đất, đứng vững trên đất; cũng vậy, này các tỳ khưu, vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. Và này các tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành? Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu tu tập chánh kiến có sự đoạn trừ tham làm cùng tận, có sự đoạn trừ sân làm cùng tận, có sự đoạn trừ si làm cùng tận... cho đến... tu tập chánh định có sự đoạn trừ tham làm cùng tận, có sự đoạn trừ sân làm cùng tận, có sự đoạn trừ si làm cùng tận. Này các tỳ khưu, chính như vậy vị tỳ khưu nương tựa vào giới, đứng vững trên giới, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.”