- Saṁyutta Nikāya 44.2
- 1. Abyākatavagga
Bản dịch
SN 44.2 — Kinh Anurādha
Anurādhasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha đang ở một ngôi chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Vi-n 3 Rồi rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến Tôn giả Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Vi-n 4 Ngồi một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy thưa với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng Nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
—Thưa chư Hiền, Như Lai ấy là bậc Thượng nhân, bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp sau đây: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.
Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia không bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si, không có thông minh.
Vi-n 5 Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách (apasàdetvà) Tôn giả Anuràdha là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 6 Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ: “Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để câu ta trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế tôn với điều không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai nói lời tương ứng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.
Vi-n 7 Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con trú trong một ngôi chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi, bạch Thế Tôn, rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến con, sau khi đến, nói lên với con những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con: “Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thắng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp như sau: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” ”. Khi được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con: “Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia chưa bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si, không có thông minh”. Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách con là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Vi-n 9 Bạch Thế Tôn, khi các vị du sĩ ngoại đạo ấy đi không bao lâu con suy nghĩ như sau: “Nếu các vị du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như thế nào để câu trả lời của ta cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp và những ai nói lời tương ưng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.
Vi-n 10 —Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ là thường hay vô thường?. Tưởng là thường hay vô thường? … Các hành là thường hay vô thường?. Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 11 —Do vậy, này Anuràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi”. Phàm có thọ gì, quá khứ, vị lai, hiện tại … Phàm có tưởng gì … Phàm có các hành gì … Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 12 Thấy vậy, này Anuràdha, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 13 Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán sắc là Như Lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán thọ là Như Lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán tưởng là Như Lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán các hành là Như Lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán thức là Như Lai không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 14-18. —Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai ở trong sắc không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở ngoài sắc không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở trong thọ không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở ngoài thọ không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở trong tưởng không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở ngoài tưởng không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở trong các hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở ngoài các hành không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở trong thức không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai ở ngoài thức không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 19-20. —Ông nghĩ như thế nào, này Anuràdha, Ông có quán Như Lai là sắc, thọ, tưởng, hành, thức hay không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ông có quán Như Lai là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có thức hay không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 21 —Ở đây, này Anuràdha, Ông ngay trong hiện tại không có nắm được Như Lai một cách chân thật, một cách xác chứng, thời có hợp lý chăng khi Ông tuyên bố về Như Lai rằng:
“Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy được biết đến ngoài bốn trường hợp sau đây: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết” ”.
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 22 —Lành thay, lành thay! Này Anuràdha. Trước đây và hiện nay, này Anuràdha, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 44.2
- 1. The Undeclared Points
With Anurādha
2. Kinh Anurādha
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā anurādho bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharati. Atha kho sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāyasmā anurādho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmatā anurādhena saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ:
“yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?
“Yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā”ti.
Evaṁ vutte, te aññatitthiyā paribbājakā āyasmantaṁ anurādhaṁ etadavocuṁ: “so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito, thero vā pana bālo abyatto”ti.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Now at that time Venerable Anurādha was staying not far from the Buddha in a wilderness hut. Then several wanderers of other religions went up to Venerable Anurādha and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, they sat down to one side and said to him:
“Reverend Anurādha, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them in these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”
“Reverends, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”
When he said this, the wanderers said to him, “This mendicant must be junior, recently gone forth, or else a foolish, incompetent senior mendicant.”
411. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi chùa có nóc nhọn (Kūṭāgārasālā). Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Anurādha trú trong một am thất trong rừng, không xa Thế Tôn. Rồi, một số đông các du sĩ ngoại đạo đi đến chỗ Tôn giả Anurādha; sau khi đến, họ nói chuyện thân mật với Tôn giả Anurādha. Sau khi nói chuyện thân mật, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Anurādha như sau: – Này hiền giả Anurādha, bậc Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi tuyên bố, Ngài tuyên bố về bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’ phải không? – Này các hiền giả, bậc Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi tuyên bố, Ngài tuyên bố ngoài bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết’, hoặc ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Khi được nói như vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Anurādha như sau: – Vị tỳ khưu này chắc là người mới tu, xuất gia chưa bao lâu, hoặc nếu là trưởng lão thì cũng là kẻ ngu dốt, không khéo léo. Rồi, các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê bai Tôn giả Anurādha bằng những lời lẽ cho là người mới tu và kẻ ngu dốt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi.
Atha kho āyasmato anurādhassa acirapakkantesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi: “sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ puccheyyuṁ, kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
Atha kho āyasmā anurādho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā anurādho bhagavantaṁ etadavoca: “idhāhaṁ, bhante, bhagavato avidūre araññakuṭikāyaṁ viharāmi. Atha kho, bhante, sambahulā aññatitthiyā paribbājakā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā mayā saddhiṁ sammodiṁsu. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ: ‘yo so, āvuso anurādha, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato imesu catūsu ṭhānesu paññāpayamāno paññāpeti: “hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā …pe… “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā’ti? Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ: ‘yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: “hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā …pe… “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā’ti. Evaṁ vutte, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā maṁ etadavocuṁ: ‘so cāyaṁ bhikkhu navo bhavissati acirapabbajito thero vā pana bālo abyatto’ti. Atha kho maṁ, bhante, te aññatitthiyā paribbājakā navavādena ca bālavādena ca apasādetvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu. Tassa mayhaṁ, bhante, acirapakkantesu tesu aññatitthiyesu paribbājakesu etadahosi: ‘sace kho maṁ te aññatitthiyā paribbājakā uttariṁ puccheyyuṁ, kathaṁ byākaramāno nu khvāhaṁ tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ vuttavādī ceva bhagavato assaṁ, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyaṁ, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyaṁ, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’”ti?
Soon after they had left, Anurādha thought, “If those wanderers were to inquire further, how should I answer them so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should I explain in line with his teaching, so that there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
Then Venerable Anurādha went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Rồi, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy đi chưa bao lâu, Tôn giả Anurādha khởi lên ý nghĩ này: – Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm nữa, làm thế nào ta trả lời để vừa nói đúng lời Thế Tôn đã dạy, vừa không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, vừa trình bày pháp đúng theo pháp, và không có một luận điểm nào hợp lý, có cơ sở nào đáng bị chỉ trích? Rồi, Tôn giả Anurādha đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anurādha bạch với Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn, ở đây, con trú trong một am thất trong rừng, không xa Thế Tôn. Rồi, bạch Thế Tôn, một số đông các du sĩ ngoại đạo đi đến chỗ con; sau khi đến, họ nói chuyện thân mật với con. Sau khi nói chuyện thân mật, đáng ghi nhớ, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con như sau: – Này hiền giả Anurādha, bậc Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi tuyên bố, Ngài tuyên bố về bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’… cho đến … ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’ phải không? Khi được hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con đã nói với các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: – Này các hiền giả, bậc Như Lai ấy, bậc Tối Thượng, bậc Vô Thượng, bậc đã đạt đến sự thành tựu tối thượng, khi tuyên bố, Ngài tuyên bố ngoài bốn trường hợp này: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết’… cho đến … ‘Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết’. Khi được nói như vậy, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với con như sau: – Vị tỳ khưu này chắc là người mới tu, xuất gia chưa bao lâu, hoặc nếu là trưởng lão thì cũng là kẻ ngu dốt, không khéo léo. Rồi, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê bai con bằng những lời lẽ cho là người mới tu và kẻ ngu dốt, đã từ chỗ ngồi đứng dậy và bỏ đi. Bạch Thế Tôn, sau khi các du sĩ ngoại đạo ấy đi chưa bao lâu, con khởi lên ý nghĩ này: – Nếu các du sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm nữa, làm thế nào ta trả lời để vừa nói đúng lời Thế Tôn đã dạy, vừa không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, vừa trình bày pháp đúng theo pháp, và không có một luận điểm nào hợp lý, có cơ sở nào đáng bị chỉ trích?
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, Anurādha? Is form permanent or impermanent?”
– Này Anurādha, con nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
– Bạch Thế Tôn, là vô thường.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
– Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay là lạc?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
– Bạch Thế Tôn, là khổ.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
– Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
– Thưa không, bạch Thế Tôn.
“Vedanā niccā vā aniccā vā”ti? …pe… Saññā …pe… saṅkhārā …pe… “viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Is feeling … perception … choices … consciousness permanent or impermanent?”
– Thọ là thường hay vô thường? … Tưởng … Hành … Thức là thường hay vô thường?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
– Bạch Thế Tôn, là vô thường.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
– Cái gì vô thường, cái đó là khổ hay là lạc?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
– Bạch Thế Tôn, là khổ.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
– Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có đáng để xem xét rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Thưa ngài, không phải vậy.”
“Tasmātiha, anurādha, yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ. Yā kāci vedanā atītānāgatapaccuppannā …pe… yā kāci saññā …pe… ye keci saṅkhārā …pe… yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, anurādha, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
“So, Anurādha, you should truly see any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ Any kind of feeling … perception … choices … consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: <em>all</em> consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with form, feeling, perception, choices, and consciousness. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
“Này Anurādha, do vậy, bất cứ sắc nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả sắc cần phải được thấy đúng như thật với chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Bất cứ thọ nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại... (như trên)... bất cứ tưởng nào... (như trên)... bất cứ các hành nào... (như trên)... bất cứ thức nào, quá khứ, vị lai, hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao thượng, xa hay gần, tất cả thức cần phải được thấy đúng như thật với chánh trí tuệ rằng: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Này Anurādha, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều trở nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, có trí tuệ khởi lên rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”
Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Saññaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Saṅkhāre tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Aññatra rūpā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanāya …pe… aññatra vedanāya …pe… saññāya …pe… aññatra saññāya …pe… saṅkhāresu …pe… aññatra saṅkhārehi …pe… viññāṇasmiṁ tathāgatoti samanupassasī”ti? “No hetaṁ, bhante”. “Aññatra viññāṇā tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies to feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies apart from form?”
“No, sir.”
“Do you consider that the label ‘realized one’ applies in relation to feeling?” “… apart from feeling?” … “… in relation to perception?” … “… apart from perception?” … “… in relation to choices?” … “… apart from choices?” … “… in relation to consciousness?” … “… apart from consciousness?”
“No, sir.”
“Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem sắc là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem thọ là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem tưởng là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem các hành là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem thức là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem Như Lai ở trong sắc không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem Như Lai khác với sắc không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ở trong thọ... (như trên)... khác với thọ... (như trên)... ở trong tưởng... (như trên)... khác với tưởng... (như trên)... ở trong các hành... (như trên)... khác với các hành... (như trên)... ông có xem Như Lai ở trong thức không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Ông có xem Như Lai khác với thức không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, rūpaṁ, vedanaṁ, saññaṁ, saṅkhāre, viññāṇaṁ tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Taṁ kiṁ maññasi, anurādha, ayaṁ so arūpī avedano asaññī asaṅkhāro aviññāṇo tathāgatoti samanupassasī”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca te, anurādha, diṭṭheva dhamme saccato thetato tathāgate anupalabbhiyamāne kallaṁ nu te taṁ veyyākaraṇaṁ—yo so, āvuso, tathāgato uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto, taṁ tathāgato aññatra imehi catūhi ṭhānehi paññāpayamāno paññāpeti: ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā …pe… ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Sādhu sādhu, anurādha. Pubbe cāhaṁ, anurādha, etarahi ca dukkhañceva paññāpemi dukkhassa ca nirodhan”ti.
Dutiyaṁ.
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to one who has form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
“What do you think, Anurādha? Do you consider that the label ‘realized one’ applies to that one who is without form?” … “… feeling?” … “… perception?” … “… choices?” … “… consciousness?”
“No, sir.”
“In that case, Anurādha, since a realized one is not found by you as a genuine fact in this very life, is it cogent for you to declare: ‘Reverends, when a realized one is describing a realized one—a supreme person, highest of people, who has reached the highest point—they describe them other than these four ways: After death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists’?”
“No, sir.”
“Good, good, Anurādha! In the past, as today, what I describe is suffering and the cessation of suffering.”
“Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem sắc, thọ, tưởng, các hành, và thức là Như Lai không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Này Anurādha, ông nghĩ thế nào, ông có xem vị Như Lai này là không có sắc, không có thọ, không có tưởng, không có các hành, không có thức không?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Này Anurādha, ở đây, ngay trong hiện tại, khi ông không thể tìm thấy Như Lai một cách chân thật, vững chắc, thì có thích hợp cho ông để tuyên bố rằng: ‘Này các hiền hữu, vị Như Lai ấy, bậc tối thượng, bậc cao cả nhất, đã chứng đắc quả vị cao cả nhất, khi vị Như Lai ấy được trình bày, được trình bày ngoài bốn trường hợp này: “Như Lai có tồn tại sau khi chết,” hoặc... (như trên)... “Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại sau khi chết”’?” – “Thưa ngài, không phải vậy.” – “Lành thay, lành thay, này Anurādha! Xưa cũng như nay, ta chỉ trình bày về khổ và sự diệt khổ.” Hết bài kinh thứ hai.