- Saṁyutta Nikāya 42.8
- 1. Gāmaṇivagga
Bản dịch
SN 42.8 — Kinh Saṅkhadhama
Saṅkhadhamasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Vi-n 2 Rồi Thôn trưởng Asibandhakaputta, đệ tử của phái Ni-kiền-tử đi đến Thế Tôn …
Vi-n 3 Thế Tôn nói với thôn trưởng Asiband-hakaputta đang ngồi một bên:
—Này Thôn trưởng, Nigaṇṭha Nātaputta thuyết pháp như thế nào cho chúng đệ tử?
Vi-n 4 —Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nātaputta thuyết pháp cho chúng đệ tử như sau: “Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy”. Như vậy, bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nātaputta thuyết pháp cho các đệ tử.
—Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của họ sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigaṇṭha Nātaputta.
Vi-n 5 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy sát hại sanh mạng, hay thời vị ấy không sát hại sanh mạng?
—Bạch Thế Tôn, có người sát hại sanh mạng, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, là thời vị ấy sát hại sanh mạng. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sát hại sanh mạng.
—Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai phải sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigaṇṭha Nātaputta.
Vi-n 6 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người lấy của không cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy lấy của không cho hay thời vị ấy không lấy của không cho?
—Bạch Thế Tôn, có người lấy của không cho, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy lấy của không cho. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không lấy của không cho.
—Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời sẽ không có ai sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigaṇṭha Nātaputta.
Vi-n 7 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống theo tà hạnh trong các dục, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh trong các dục, hay thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong các dục?
—Bạch Thế Tôn, có người sống theo tà hạnh trong các dục, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng làm. Thời này là ít hơn, thời vị ấy sống theo tà hạnh trong các dục. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không sống theo tà hạnh trong các dục.
—Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời không có ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigaṇṭha Nātaputta.
Vi-n 8 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Có người sống nói láo, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời nào là nhiều hơn, thời vị ấy nói láo, hay thời vị ấy không nói láo?
—Bạch Thế Tôn, có người nói láo, ban đêm hay ban ngày, hay thỉnh thoảng nói. Thời này là ít hơn, thời vị ấy nói láo. Và thời kia là nhiều hơn, thời vị ấy không nói láo.
—Phàm sống tối đa, tối đa như thế nào, này Thôn trưởng, chiều hướng ấy sanh thú của vị ấy sẽ như vậy. Nếu sự thật là vậy, thời không ai sẽ sanh vào đọa xứ, địa ngục như lời của Nigaṇṭha Nātaputta.
Vi-n 9 Ở đây, này Thôn trưởng, có vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: “Ai sát hại sanh mạng, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục. Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo sư ấy.
Vi-n 10 Vị ấy suy nghĩ: “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sát hại sanh mạng tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có sát hại một sanh mạng. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn sẽ rơi vào địa ngục như vậy. ” Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai lấy của không cho, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta có lấy của không cho. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục.” Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy. “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai sống theo tà hạnh trong các dục, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta sống theo tà hạnh trong các dục. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy. “Thầy ta nói như sau, thấy như sau: ‘Ai nói láo, tất cả phải sanh vào đọa xứ, địa ngục’. Nay ta nói láo. Như vậy, ta phải sanh vào đọa xứ, địa ngục”. Vị ấy chấp trước tà kiến ấy. Này Thôn trưởng, không đoạn tận lời ấy, không đoạn tận tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, vị ấy chắc chắn rơi vào đọa xứ, địa ngục như vậy.
Vi-n 11 Ở đây, này Thôn trưởng, Như Lai sanh ra ở đời, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn; Như Lai dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: “Chớ có sát sanh”; chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: “Chớ có lấy của không cho”; chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục và nói: “Chớ có sống theo tà hạnh trong các dục”; chỉ trích, công kích nói láo và nói: “Chớ có nói láo”. Này Thôn trưởng, người đệ tử đặt lòng tin tưởng vào vị Ðạo Sư ấy. Vị ấy suy tư như sau:
Vi-n 12 “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sát sanh và nói: ‘Chớ có sát sanh”. Nay ta có sát hại như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên (sutthu), như vậy là không tốt. Và do duyên ấy ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’”. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ sát sanh. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ sát sanh. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
Vi-n 13 “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích lấy của không cho và nói: ‘Chớ có lấy của không cho”. Nay ta có lấy của không cho như thế này, hay như thế kia. Như vậy là không nên, như vậy là không tốt. Và do duyên ấy, ta có thể hối hận: ‘Ác nghiệp ta làm, nay sẽ không làm nữa’. Người ấy do suy tư như vậy, liền từ bỏ lấy của không cho. Và trong tương lai, người ấy đình chỉ lấy của không cho. Như vậy, ác nghiệp ấy được vượt qua.
Vi-n 14 “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích sống theo tà hạnh trong các dục.”.
Vi-n 15 “Thế Tôn dùng nhiều phương tiện chỉ trích, công kích nói láo.”.
Vi-n 16 Do đoạn tận sát sanh, người ấy trở thành người không sát sanh. Do đoạn tận lấy của không cho, người ấy trở thành người không lấy của không cho. Do đoạn tận sống theo tà hạnh trong các dục, người ấy trở thành người không sống theo tà hạnh trong các dục. Do đoạn tận nói láo, người ấy trở thành người từ bỏ nói láo. Do đoạn tận nói hai lưỡi, người ấy trở thành người từ bỏ nói hai lưỡi. Do đoạn tận nói lời độc ác, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời độc ác. Do đoạn tận lời nói phù phiếm, người ấy trở thành người từ bỏ nói lời phù phiếm. Ðoạn tận tham, không có tham lam, đoạn tận sân, không có sân tâm, đoạn tận tà kiến, người ấy trở thành người theo chánh kiến. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với từ, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Vi-n 17 Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và (bằng con ốc), với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập từ tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại. Này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử ấy, như vậy từ bỏ tham, từ bỏ sân, từ bỏ si, chánh niệm, tỉnh giác, với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả, sống biến mãn một phương. Như vậy, phương thứ hai. Như vậy, phương thứ ba. Như vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Vi-n 18 Ví như, này Thôn trưởng, một người lực sĩ thổi tù và, với ít mệt nhọc làm cho bốn phương được biết. Cũng vậy, này Thôn trưởng, tu tập xả tâm giải thoát như vậy, làm cho tăng trưởng như vậy, phàm nghiệp làm có hạn lượng, ở đây, sẽ không còn dư tàn; ở đây, sẽ không còn tồn tại.
Vi-n 19 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 42.8
- 1. Chiefs
A Horn Blower
8. Kinh Saṅkhadhama
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi nigaṇṭhasāvako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho asibandhakaputtaṁ gāmaṇiṁ bhagavā etadavoca: “kathaṁ nu kho, gāmaṇi, nigaṇṭho nāṭaputto sāvakānaṁ dhammaṁ desetī”ti?
“Evaṁ kho, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto sāvakānaṁ dhammaṁ deseti: ‘yo koci pāṇaṁ atipāteti, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci adinnaṁ ādiyati, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci kāmesu micchā carati, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci musā bhaṇati sabbo, so āpāyiko nerayiko. Yaṁbahulaṁ yaṁbahulaṁ viharati, tena tena nīyatī’ti. Evaṁ kho, bhante, nigaṇṭho nāṭaputto sāvakānaṁ dhammaṁ desetī”ti.
“‘Yaṁbahulaṁ yaṁbahulañca, gāmaṇi, viharati, tena tena nīyati’, evaṁ sante na koci āpāyiko nerayiko bhavissati, yathā nigaṇṭhassa nāṭaputtassa vacanaṁ.
At one time the Buddha was staying near Nāḷandā in Pāvārika’s Mango Grove.
Then Asibandhaka’s son the chief, who was a disciple of the Jains, went up to the Buddha, and sat down to one side. The Buddha said to him, “Chief, how does the Jain ascetic of the Ñātika clan teach his disciples?”
“Sir, this is how the Jain Ñātika teaches his disciples: ‘Everyone who kills a living creature, steals, commits sexual misconduct, or lies goes to a place of loss, to hell. You’re led on by what you frequently live by.’ This is how the Jain Ñātika teaches his disciples.”
“‘You’re led on by what you usually live by’: if this were true, then, according to what the Jain Ñātika says, no one would go to a place of loss, to hell.
360. Một thời, Đức Thế Tôn trú ở Nālandā, tại vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, Gāmaṇi Asibandhakaputta, một đệ tử của Nigaṇṭha, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ông ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nói với Gāmaṇi Asibandhakaputta đang ngồi một bên rằng: “Này Gāmaṇi, Nigaṇṭha Nāṭaputta thuyết Pháp cho các đệ tử của ông như thế nào?” “Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nāṭaputta thuyết Pháp cho các đệ tử của ông như thế này: ‘Bất cứ ai sát sanh, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, đọa địa ngục. Bất cứ ai lấy của không cho, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, đọa địa ngục. Bất cứ ai tà dâm trong các dục, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, đọa địa ngục. Bất cứ ai nói dối, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, đọa địa ngục. Người ấy sống với trạng thái nào nhiều hơn, người ấy sẽ bị dẫn dắt đi theo trạng thái ấy.’ Bạch Thế Tôn, Nigaṇṭha Nāṭaputta thuyết Pháp cho các đệ tử của ông như vậy.” “Này Gāmaṇi, nếu ‘người ấy sống với trạng thái nào nhiều hơn, người ấy sẽ bị dẫn dắt đi theo trạng thái ấy’, thì trong trường hợp này, theo lời dạy của Nigaṇṭha Nāṭaputta, sẽ không có ai bị đọa ác thú, đọa địa ngục.”
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, yo so puriso pāṇātipātī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, katamo bahutaro samayo, yaṁ vā so pāṇamatipāteti, yaṁ vā so pāṇaṁ nātipātetī”ti?
“Yo so, bhante, puriso pāṇātipātī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, appataro so samayo yaṁ so pāṇamatipāteti, atha kho sveva bahutaro samayo yaṁ so pāṇaṁ nātipātetī”ti.
“‘Yaṁbahulaṁ yaṁbahulañca, gāmaṇi, viharati tena tena nīyatī’ti, evaṁ sante na koci āpāyiko nerayiko bhavissati, yathā nigaṇṭhassa nāṭaputtassa vacanaṁ.
What do you think, chief? Take a person who kills living creatures. If we compare periods of time during the day and night, which is more frequent: the occasions when they’re killing or when they’re not killing?”
“The occasions when they’re killing are less frequent, while the occasions when they’re not killing are more frequent.”
“‘You’re led on by what you usually live by’: if this were true, then, according to what the Jain ascetic of the Ñātika clan says, no one would go to a place of loss, to hell.
“Này Gāmaṇi, ông nghĩ thế nào? Có một người sát sanh, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm. Thời gian nào nhiều hơn: thời gian người ấy sát sanh, hay thời gian người ấy không sát sanh?” “Bạch Thế Tôn, đối với người sát sanh, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm, thời gian người ấy sát sanh thì ít hơn; còn thời gian người ấy không sát sanh thì nhiều hơn.” “Này Gāmaṇi, nếu ‘người ấy sống với trạng thái nào nhiều hơn, người ấy sẽ bị dẫn dắt đi theo trạng thái ấy’, thì trong trường hợp này, theo lời dạy của Nigaṇṭha Nāṭaputta, sẽ không có ai bị đọa ác thú, đọa địa ngục.”
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, yo so puriso adinnādāyī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, katamo bahutaro samayo, yaṁ vā so adinnaṁ ādiyati, yaṁ vā so adinnaṁ nādiyatī”ti. “Yo so, bhante, puriso adinnādāyī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya appataro so samayo, yaṁ so adinnaṁ ādiyati, atha kho sveva bahutaro samayo, yaṁ so adinnaṁ nādiyatī”ti. “‘Yaṁbahulaṁ yaṁbahulañca, gāmaṇi, viharati tena tena nīyatī’ti, evaṁ sante na koci āpāyiko nerayiko bhavissati, yathā nigaṇṭhassa nāṭaputtassa vacanaṁ.
What do you think, chief? Take a person who steals …
“Này Gāmaṇi, ông nghĩ thế nào? Có một người lấy của không cho, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm. Thời gian nào nhiều hơn: thời gian người ấy lấy của không cho, hay thời gian người ấy không lấy của không cho?” “Bạch Thế Tôn, đối với người lấy của không cho, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm, thời gian người ấy lấy của không cho thì ít hơn; còn thời gian người ấy không lấy của không cho thì nhiều hơn.” “Này Gāmaṇi, nếu ‘người ấy sống với trạng thái nào nhiều hơn, người ấy sẽ bị dẫn dắt đi theo trạng thái ấy’, thì trong trường hợp này, theo lời dạy của Nigaṇṭha Nāṭaputta, sẽ không có ai bị đọa ác thú, đọa địa ngục.”
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, yo so puriso kāmesumicchācārī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, katamo bahutaro samayo, yaṁ vā so kāmesu micchā carati, yaṁ vā so kāmesu micchā na caratī”ti? “Yo so, bhante, puriso kāmesumicchācārī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, appataro so samayo yaṁ so kāmesu micchā carati, atha kho sveva bahutaro samayo, yaṁ so kāmesu micchā na caratī”ti. “‘Yaṁbahulaṁ yaṁbahulañca, gāmaṇi, viharati tena tena nīyatī’ti, evaṁ sante na koci āpāyiko nerayiko bhavissati, yathā nigaṇṭhassa nāṭaputtassa vacanaṁ.
Take a person who commits sexual misconduct …
“Này Gāmaṇi, ông nghĩ thế nào? Có một người tà dâm trong các dục, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm. Thời gian nào nhiều hơn: thời gian người ấy tà dâm trong các dục, hay thời gian người ấy không tà dâm trong các dục?” “Bạch Thế Tôn, đối với người tà dâm trong các dục, tùy vào từng thời điểm trong ngày hay đêm, thời gian người ấy tà dâm trong các dục thì ít hơn; còn thời gian người ấy không tà dâm trong các dục thì nhiều hơn.” “Này Gāmaṇi, nếu ‘người ấy sống với trạng thái nào nhiều hơn, người ấy sẽ bị dẫn dắt đi theo trạng thái ấy’, thì trong trường hợp này, theo lời dạy của Nigaṇṭha Nāṭaputta, sẽ không có ai bị đọa ác thú, đọa địa ngục.”
Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, yo so puriso musāvādī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, katamo bahutaro samayo, yaṁ vā so musā bhaṇati, yaṁ vā so musā na bhaṇatī”ti?
“Yo so, bhante, puriso musāvādī rattiyā vā divasassa vā samayāsamayaṁ upādāya, appataro so samayo, yaṁ so musā bhaṇati, atha kho sveva bahutaro samayo, yaṁ so musā na bhaṇatī”ti.
“‘Yaṁbahulaṁ yaṁbahulañca, gāmaṇi, viharati tena tena nīyatī’ti, evaṁ sante na koci āpāyiko nerayiko bhavissati, yathā nigaṇṭhassa nāṭaputtassa vacanaṁ.
Take a person who lies. If we compare periods of time during the day and night, which is more frequent: the occasions when they’re lying or when they’re not lying?”
“The occasions when they’re lying are less frequent, while the occasions when they’re not lying are more frequent.”
“‘You’re led on by what you usually live by’: if this were true, then, according to what the Jain Ñātika says, no one would go to a place of loss, to hell.
“Này Gāmaṇi, ông nghĩ thế nào về điều này: có người có thói quen nói dối, bất kể ngày hay đêm, lúc này hay lúc khác. Thời gian nào nhiều hơn, khi người ấy nói dối hay khi người ấy không nói dối?” — “Bạch ngài, đối với người có thói quen nói dối, bất kể ngày hay đêm, lúc này hay lúc khác, thời gian người ấy nói dối thì ít hơn, còn thời gian người ấy không nói dối thì lại nhiều hơn.” — “Này Gāmaṇi, nếu nói rằng: ‘Người ấy sống phần nhiều với điều gì thì sẽ bị dẫn dắt đi bởi điều đó,’ thì trong trường hợp như vậy, sẽ không có ai bị đọa ác thú, địa ngục, theo như lời của Nigaṇṭha Nāṭaputta.”
Idha, gāmaṇi, ekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi: ‘yo koci pāṇamatipāteti, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci adinnaṁ ādiyati, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci kāmesu micchā carati, sabbo so āpāyiko nerayiko, yo koci musā bhaṇati, sabbo so āpāyiko nerayiko’ti. Tasmiṁ kho pana, gāmaṇi, satthari sāvako abhippasanno hoti. Tassa evaṁ hoti: ‘mayhaṁ kho satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—yo koci pāṇamatipāteti, sabbo so āpāyiko nerayikoti. Atthi kho pana mayā pāṇo atipātito, ahampamhi āpāyiko nerayikoti diṭṭhiṁ paṭilabhati. Taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Mayhaṁ kho satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—yo koci adinnaṁ ādiyati, sabbo so āpāyiko nerayikoti. Atthi kho pana mayā adinnaṁ ādinnaṁ ahampamhi āpāyiko nerayikoti diṭṭhiṁ paṭilabhati. Taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Mayhaṁ kho satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—yo koci kāmesu micchā carati, sabbo so āpāyiko nerayiko’ti. Atthi kho pana mayā kāmesu micchā ciṇṇaṁ. ‘Ahampamhi āpāyiko nerayiko’ti diṭṭhiṁ paṭilabhati. Taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye. Mayhaṁ kho satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—yo koci musā bhaṇati, sabbo so āpāyiko nerayikoti. Atthi kho pana mayā musā bhaṇitaṁ. ‘Ahampamhi āpāyiko nerayiko’ti diṭṭhiṁ paṭilabhati. Taṁ, gāmaṇi, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Take some teacher who has this doctrine and view: ‘Everyone who kills a living creature, steals, commits sexual misconduct, or lies goes to a place of loss, to hell.’ And there’s a disciple who is devoted to that teacher. They think: ‘My teacher has this doctrine and view: “Everyone who kills a living creature, steals, commits sexual misconduct, or lies goes to a place of loss, to hell.” But I’ve killed living creatures … stolen … committed sexual misconduct … or lied.’ They get the view: ‘I too am going to a place of loss, to hell.’ Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.
“Này Gāmaṇi, ở đời này, có vị đạo sư có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: ‘Bất cứ ai sát sanh, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục; bất cứ ai lấy của không cho, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục; bất cứ ai tà dâm trong các dục, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục; bất cứ ai nói dối, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục.’ Này Gāmaṇi, người đệ tử có lòng tịnh tín sâu sắc nơi vị đạo sư ấy. Người ấy suy nghĩ như vầy: ‘Đạo sư của ta có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Bất cứ ai sát sanh, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục.” Ta đã từng sát sanh, ta cũng là người bị đọa ác thú, địa ngục.’ Người ấy chấp nhận tà kiến ấy. Này Gāmaṇi, do không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, người ấy giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng bị đặt vào địa ngục như vậy. ‘Đạo sư của ta có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Bất cứ ai lấy của không cho, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục.” Ta đã từng lấy của không cho, ta cũng là người bị đọa ác thú, địa ngục.’ Người ấy chấp nhận tà kiến ấy. Này Gāmaṇi, do không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, người ấy giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng bị đặt vào địa ngục như vậy. ‘Đạo sư của ta có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Bất cứ ai tà dâm trong các dục, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục.” Ta đã từng tà dâm trong các dục. ‘Ta cũng là người bị đọa ác thú, địa ngục.’ Người ấy chấp nhận tà kiến ấy. Này Gāmaṇi, do không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, người ấy giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng bị đặt vào địa ngục như vậy. ‘Đạo sư của ta có thuyết như vầy, có kiến giải như vầy: “Bất cứ ai nói dối, tất cả người ấy đều bị đọa ác thú, địa ngục.” Ta đã từng nói dối. ‘Ta cũng là người bị đọa ác thú, địa ngục.’ Người ấy chấp nhận tà kiến ấy. Này Gāmaṇi, do không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không xả ly tà kiến ấy, người ấy giống như vật được mang đến rồi đặt xuống, cũng bị đặt vào địa ngục như vậy.
Idha pana, gāmaṇi, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. So anekapariyāyena pāṇātipātaṁ garahati vigarahati, ‘pāṇātipātā viramathā’ti cāha. Adinnādānaṁ garahati vigarahati, ‘adinnādānā viramathā’ti cāha. Kāmesumicchācāraṁ garahati, vigarahati ‘kāmesumicchācārā viramathā’ti cāha. Musāvādaṁ garahati vigarahati ‘musāvādā viramathā’ti cāha. Tasmiṁ kho pana, gāmaṇi, satthari sāvako abhippasanno hoti. So iti paṭisañcikkhati: ‘bhagavā kho anekapariyāyena pāṇātipātaṁ garahati vigarahati, pāṇātipātā viramathāti cāha. Atthi kho pana mayā pāṇo atipātito yāvatako vā tāvatako vā. Yo kho pana mayā pāṇo atipātito yāvatako vā tāvatako vā, taṁ na suṭṭhu, taṁ na sādhu. Ahañceva kho pana tappaccayā vippaṭisārī assaṁ. Na metaṁ pāpaṁ kammaṁ akataṁ bhavissatī’ti.
But consider when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. In many ways he criticizes and denounces killing living creatures, saying: ‘Stop killing living creatures!’ He criticizes and denounces stealing … sexual misconduct … lying, saying: ‘Stop lying!’ And there’s a disciple who is devoted to that teacher. Then they reflect: ‘In many ways the Buddha criticizes and denounces killing living creatures, saying: “Stop killing living creatures!” But I have killed living creatures to a certain extent. That’s not right, it’s not good, and I feel remorseful because of it. But I can’t undo what I have done.’
“Lại nữa, này Gāmaṇi, ở đời này, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy bằng nhiều phương tiện khiển trách, quở trách việc sát sanh, và nói rằng: ‘Hãy từ bỏ sát sanh.’ Vị ấy khiển trách, quở trách việc lấy của không cho, và nói rằng: ‘Hãy từ bỏ lấy của không cho.’ Vị ấy khiển trách, quở trách việc tà dâm trong các dục, và nói rằng: ‘Hãy từ bỏ tà dâm trong các dục.’ Vị ấy khiển trách, quở trách việc nói dối, và nói rằng: ‘Hãy từ bỏ nói dối.’ Này Gāmaṇi, người đệ tử có lòng tịnh tín sâu sắc nơi vị đạo sư ấy. Người ấy suy xét như vầy: ‘Thế Tôn bằng nhiều phương tiện khiển trách, quở trách việc sát sanh, và nói rằng: “Hãy từ bỏ sát sanh.” Ta đã từng sát sanh, dù ít hay nhiều. Việc ta đã sát sanh, dù ít hay nhiều, điều đó không tốt, không lành. Nếu ta vì duyên đó mà hối hận, ác nghiệp này của ta sẽ không thể trở thành chưa từng được làm.’ Người ấy, sau khi suy xét như vậy, từ bỏ chính việc sát sanh ấy, và trong tương lai, từ bỏ sát sanh. Như vậy là sự đoạn trừ ác nghiệp này. Như vậy là sự vượt qua ác nghiệp này.
‘Bhagavā kho anekapariyāyena adinnādānaṁ garahati vigarahati, adinnādānā viramathāti cāha. Atthi kho pana mayā adinnaṁ ādinnaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā. Yaṁ kho pana mayā adinnaṁ ādinnaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā taṁ na suṭṭhu, taṁ na sādhu. Ahañceva kho pana tappaccayā vippaṭisārī assaṁ, na metaṁ pāpaṁ kammaṁ akataṁ bhavissatī’ti. So iti paṭisaṅkhāya tañceva adinnādānaṁ pajahati. Āyatiñca adinnādānā paṭivirato hoti. Evametassa pāpassa kammassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpassa kammassa samatikkamo hoti.
‘In many ways the Buddha criticizes and denounces stealing …’
“‘Thế Tôn bằng nhiều phương tiện khiển trách, quở trách việc lấy của không cho, và nói rằng: “Hãy từ bỏ lấy của không cho.” Ta đã từng lấy của không cho, dù ít hay nhiều. Việc ta đã lấy của không cho, dù ít hay nhiều, điều đó không tốt, không lành. Nếu ta vì duyên đó mà hối hận, ác nghiệp này của ta sẽ không thể trở thành chưa từng được làm.’ Người ấy, sau khi suy xét như vậy, từ bỏ chính việc lấy của không cho ấy, và trong tương lai, từ bỏ lấy của không cho. Như vậy là sự đoạn trừ ác nghiệp này. Như vậy là sự vượt qua ác nghiệp này.
‘Bhagavā kho pana anekapariyāyena kāmesumicchācāraṁ garahati vigarahati, kāmesumicchācārā viramathāti cāha. Atthi kho pana mayā kāmesu micchā ciṇṇaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā. Yaṁ kho pana mayā kāmesu micchā ciṇṇaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā taṁ na suṭṭhu, taṁ na sādhu. Ahañceva kho pana tappaccayā vippaṭisārī assaṁ, na metaṁ pāpaṁ kammaṁ akataṁ bhavissatī’ti. So iti paṭisaṅkhāya tañceva kāmesumicchācāraṁ pajahati, āyatiñca kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Evametassa pāpassa kammassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpassa kammassa samatikkamo hoti.
‘In many ways the Buddha criticizes and denounces sexual misconduct …’
‘Đức Thế Tôn, bằng nhiều phương tiện, khiển trách, đặc biệt khiển trách tà hạnh trong các dục, và Ngài dạy rằng: ‘Hãy từ bỏ tà hạnh trong các dục.’ Lại nữa, có việc tà hạnh trong các dục đã được ta thực hành, dù ít hay nhiều. Việc tà hạnh trong các dục đã được ta thực hành, dù ít hay nhiều, điều ấy không tốt, điều ấy không lành. Nếu ta vì nhân duyên ấy mà hối hận, ác nghiệp này của ta sẽ không trở thành không được làm.’ Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, từ bỏ chính tà hạnh trong các dục ấy, và trong tương lai, vị ấy từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy là sự đoạn trừ ác nghiệp này. Như vậy là sự vượt qua ác nghiệp này.
‘Bhagavā kho pana anekapariyāyena musāvādaṁ garahati vigarahati, musāvādā viramathāti cāha. Atthi kho pana mayā musā bhaṇitaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā. Yaṁ kho pana mayā musā bhaṇitaṁ yāvatakaṁ vā tāvatakaṁ vā taṁ na suṭṭhu, taṁ na sādhu. Ahañceva kho pana tappaccayā vippaṭisārī assaṁ, na metaṁ pāpaṁ kammaṁ akataṁ bhavissatī’ti. So iti paṭisaṅkhāya tañceva musāvādaṁ pajahati, āyatiñca musāvādā paṭivirato hoti. Evametassa pāpassa kammassa pahānaṁ hoti. Evametassa pāpassa kammassa samatikkamo hoti.
‘In many ways the Buddha criticizes and denounces lying, saying: “Stop lying!” But I have lied to a certain extent. That’s not right, it’s not good, and I feel remorseful because of it. But I can’t undo what I have done.’ Reflecting like this, they give up lying, and in future they refrain from lying. That’s how to give up this bad deed and get past it.
‘Đức Thế Tôn, bằng nhiều phương tiện, khiển trách, đặc biệt khiển trách việc nói dối, và Ngài dạy rằng: ‘Hãy từ bỏ việc nói dối.’ Lại nữa, có việc nói dối đã được ta thực hiện, dù ít hay nhiều. Việc nói dối đã được ta thực hiện, dù ít hay nhiều, điều ấy không tốt, điều ấy không lành. Nếu ta vì nhân duyên ấy mà hối hận, ác nghiệp này của ta sẽ không trở thành không được làm.’ Vị ấy, sau khi suy xét như vậy, từ bỏ chính việc nói dối ấy, và trong tương lai, vị ấy từ bỏ việc nói dối. Như vậy là sự đoạn trừ ác nghiệp này. Như vậy là sự vượt qua ác nghiệp này.
So pāṇātipātaṁ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti. Adinnādānaṁ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti. Kāmesumicchācāraṁ pahāya kāmesumicchācārā paṭivirato hoti. Musāvādaṁ pahāya musāvādā paṭivirato hoti. Pisuṇaṁ vācaṁ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti. Pharusaṁ vācaṁ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti. Samphappalāpaṁ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti. Abhijjhaṁ pahāya anabhijjhālu hoti. Byāpādappadosaṁ pahāya abyāpannacitto hoti. Micchādiṭṭhiṁ pahāya sammādiṭṭhiko hoti.
They give up killing living creatures. They give up stealing. They give up sexual misconduct. They give up lying. They give up backbiting. They give up harsh speech. They give up talking nonsense. They give up covetousness. They give up ill will and malevolence. They give up wrong view and have right view.
Vị ấy, sau khi từ bỏ sát sanh, trở thành người từ bỏ sát sanh. Sau khi từ bỏ trộm cắp, trở thành người từ bỏ trộm cắp. Sau khi từ bỏ tà hạnh trong các dục, trở thành người từ bỏ tà hạnh trong các dục. Sau khi từ bỏ nói dối, trở thành người từ bỏ nói dối. Sau khi từ bỏ nói đôi chiều, trở thành người từ bỏ nói đôi chiều. Sau khi từ bỏ nói lời thô ác, trở thành người từ bỏ nói lời thô ác. Sau khi từ bỏ nói lời vô ích, trở thành người từ bỏ nói lời vô ích. Sau khi từ bỏ tham lam, vị ấy trở thành người không tham lam. Sau khi từ bỏ sân hận, vị ấy trở thành người có tâm không sân hận. Sau khi từ bỏ tà kiến, vị ấy trở thành người có chánh kiến.
Sa kho so, gāmaṇi, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno paṭissato mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Seyyathāpi, gāmaṇi, balavā saṅkhadhamo appakasireneva catuddisā viññāpeyya; evameva kho, gāmaṇi, evaṁ bhāvitāya mettāya cetovimuttiyā evaṁ bahulīkatāya yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ, na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhati.
That noble disciple is rid of desire, rid of ill will, unconfused, aware, and mindful. They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, when the heart’s release by love has been developed and cultivated like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there.
Này Gāmaṇi, vị Thánh đệ tử ấy, sau khi đã lìa tham lam, lìa sân hận, không si mê, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với từ, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp nơi, với tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với từ, rộng lớn, đại hành, vô lượng, không oán, không hận. Này Gāmaṇi, ví như một người thổi tù và có sức mạnh, không khó khăn làm cho bốn phương được biết; cũng vậy, này Gāmaṇi, khi tâm giải thoát bằng từ đã được tu tập như vậy, đã được làm cho sung mãn như vậy, thì nghiệp hữu hạn nào sẽ không còn tồn tại ở đó, không còn lưu lại ở đó.
Sa kho so, gāmaṇi, ariyasāvako evaṁ vigatābhijjho vigatabyāpādo asammūḷho sampajāno paṭissato karuṇāsahagatena cetasā …pe… muditāsahagatena cetasā …pe…. Upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati. Seyyathāpi, gāmaṇi, balavā saṅkhadhamo appakasireneva catuddisā viññāpeyya; evameva kho, gāmaṇi, evaṁ bhāvitāya upekkhāya cetovimuttiyā evaṁ bahulīkatāya yaṁ pamāṇakataṁ kammaṁ na taṁ tatrāvasissati, na taṁ tatrāvatiṭṭhatī”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Then that noble disciple is rid of desire, rid of ill will, unconfused, aware, and mindful. They meditate spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. Suppose there was a powerful horn blower. They’d easily make themselves heard in the four quarters. In the same way, when the heart’s release by equanimity has been developed and cultivated like this, any limited deeds they’ve done don’t remain or persist there.”
When he said this, Asibandhaka’s son the chief said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! … From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Này Gāmaṇi, vị Thánh đệ tử ấy, sau khi đã lìa tham lam, lìa sân hận, không si mê, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp nơi, với tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, rộng lớn, đại hành, vô lượng, không oán, không hận. Này Gāmaṇi, ví như một người thổi tù và có sức mạnh, không khó khăn làm cho bốn phương được biết; cũng vậy, này Gāmaṇi, khi tâm giải thoát bằng xả đã được tu tập như vậy, đã được làm cho sung mãn như vậy, thì nghiệp hữu hạn nào sẽ không còn tồn tại ở đó, không còn lưu lại ở đó.” Khi được nói như vậy, Gāmaṇi, con trai của Asibandhaka, bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!... Xin Thế Tôn hãy xem con là một nam cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y.” Hết phẩm thứ tám.