- Saṁyutta Nikāya 42.7
- 1. Gāmaṇivagga
Bản dịch
SN 42.7 — Kinh Ví Dụ Mảnh Ruộng
Khettūpamasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvàrikamba.
Vi-n 2 Rồi thôn trưởng Asibandhakaputta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình?
—Ðúng vậy, này Thôn trưởng, Như Lai sống vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đối với tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Vi-n 4 —Nhưng vì sao, bạch Thế Tôn, đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp một cách hoàn toàn trọn vẹn; đối với một số người, Thế Tôn thuyết pháp không hoàn toàn trọn vẹn như vậy?
—Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông, Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy.
Vi-n 5 Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, ở đây, một người cày ruộng có ba thửa ruộng, một loại tốt, một loại bậc trung, một loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Người cày ruộng ấy muốn gieo hột giống, thời gieo ở thuở ruộng nào trước, ruộng tốt, hay ruộng bậc trung, hay ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc?
—Bạch Thế Tôn, người gia chủ cày ruộng muốn gieo hột giống, gieo vào thửa ruộng tốt; sau khi gieo ở đấy xong, lại gieo vào thửa ruộng loại trung; sau khi gieo ở đấy xong, vị ấy có thể gieo hay không gieo hạt giống vào thửa ruộng loại xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc. Vì sao? Tối thiểu cũng có thể làm món ăn cho các trâu bò.
Vi-n 6 —Ví như thửa ruộng tốt, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ðối với họ, Ta thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 7 Ví như thửa ruộng loại trung, này Thôn trưởng, là các vị nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ta nói lên cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 8 Ví như thửa ruộng xấu, đất cứng, có chất muối, đất độc, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ hiểu được chỉ một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 9 Ví như, này Thôn trưởng, một người có ba bình nước, một bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước; một bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước; một bình nước nứt rạn, chảy nước, thấm nước. Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Nếu có người muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa nước ở đâu trước, người ấy chứa bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, hay bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, hay bình nước nứt rạn, chảy nước và thấm nước?
—Bạch Thế Tôn, người ấy muốn chứa nước, người ấy sẽ chứa vào bình nước không có nứt rạn, không có chảy nước, không có thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước vào bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước. Sau khi chứa nước vào đấy rồi, người ấy mới chứa nước hay không chứa nước vào bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước. Vì sao? Vì ít nhứt cũng có thể dùng để rửa vật dụng.
Vi-n 10 —Ví dụ với bình nước không nứt rạn, không chảy nước, không thấm nước, này Thôn trưởng, là các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ sống lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 11 Ví dụ với cái bình nước không nứt rạn, nhưng chảy nước và thấm nước, này Thôn trưởng, là các nam cư sĩ, nữ cư sĩ của Ta. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Này Thôn trưởng, vì họ lấy Ta làm ngọn đèn, lấy Ta làm hang ẩn, lấy Ta làm chỗ che chở, lấy Ta làm chỗ nương tựa.
Vi-n 12 Ví dụ với cái bình nước bị nứt rạn, bị chảy nước, bị thấm nước, này Thôn trưởng, là các ngoại đạo Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ. Ta thuyết pháp cho họ, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày cho họ biết đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh. Vì sao? Vì rằng, nếu họ chỉ hiểu được một câu, như vậy là họ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Vi-n 13 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 42.7
- 1. Chiefs
The Simile of the Field
7. Kinh Ví Dụ Mảnh Ruộng
Ekaṁ samayaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane. Atha kho asibandhakaputto gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“nanu, bhante, bhagavā sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti?
“Evaṁ, gāmaṇi, tathāgato sabbapāṇabhūtahitānukampī viharatī”ti.
“Atha kiñcarahi, bhante, bhagavā ekaccānaṁ sakkaccaṁ dhammaṁ deseti, ekaccānaṁ no tathā sakkaccaṁ dhammaṁ desetī”ti?
“Tena hi, gāmaṇi, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
At one time the Buddha was staying near Nāḷandā in Pāvārika’s Mango Grove. Then Asibandhaka’s son the chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, doesn’t the Buddha live full of sympathy for all living beings?”
“Yes, chief.”
“So why then, sir, do you teach some people thoroughly and others less thoroughly?”
“Well then, chief, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.
359. Một thời, Thế Tôn trú ở Nāḷandā, tại vườn xoài của Pāvārika. Bấy giờ, người trưởng làng Asibandhakaputta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người trưởng làng Asibandhakaputta bạch với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, có phải Thế Tôn sống với lòng bi mẫn, mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh hữu tình không?” “Đúng vậy, này người trưởng làng, Như Lai sống với lòng bi mẫn, mưu cầu lợi ích cho tất cả chúng sanh hữu tình.” “Bạch Thế Tôn, vậy tại sao Thế Tôn lại thuyết Pháp một cách cẩn trọng cho một số người, và không thuyết Pháp một cách cẩn trọng như vậy cho một số người khác?” “Này người trưởng làng, vậy thì Ta sẽ hỏi lại ông về vấn đề này. Ông hãy trả lời theo như ông nghĩ. Này người trưởng làng, ông nghĩ thế nào? Giả sử ở đây có một người nông dân gia chủ có ba thửa ruộng: một thửa ruộng tốt nhất, một thửa ruộng hạng trung, và một thửa ruộng xấu, đất cằn cỗi, bị nhiễm mặn, chất đất kém. Này người trưởng làng, ông nghĩ thế nào? Người nông dân gia chủ ấy muốn gieo hạt giống thì sẽ gieo ở đâu trước tiên: ở thửa ruộng tốt nhất, ở thửa ruộng hạng trung, hay ở thửa ruộng xấu, đất cằn cỗi, bị nhiễm mặn, chất đất kém?” “Bạch Thế Tôn, người nông dân gia chủ ấy muốn gieo hạt giống thì sẽ gieo ở thửa ruộng tốt nhất. Sau khi gieo ở đó, vị ấy sẽ gieo ở thửa ruộng hạng trung. Sau khi gieo ở đó, đối với thửa ruộng xấu, đất cằn cỗi, bị nhiễm mặn, chất đất kém, vị ấy có thể gieo hoặc không gieo. Vì sao vậy? Vì ít nhất nó cũng sẽ thành thức ăn cho bò.”
“Asu, bhante, kassako gahapati bījāni patiṭṭhāpetukāmo yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ tattha patiṭṭhāpeyya. Tattha patiṭṭhāpetvā yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi tattha patiṭṭhāpeyyapi, nopi patiṭṭhāpeyya. Taṁ kissa hetu? Antamaso gobhattampi bhavissatī”ti.
“Sir, he’d plant them first in the good field, then the average, then he may or may not plant seed in the poor field. Why is that? Because at least it can be fodder for the cattle.”
“Này Gāmaṇi, ví như một người, sau khi dìm một hũ bơ hay một hũ dầu vào trong một hồ nước sâu, rồi đập vỡ hũ ấy. Ở đấy, những gì là sỏi đá hay mảnh hũ, chúng sẽ chìm xuống đáy; còn những gì là bơ hay dầu, chúng sẽ nổi lên trên. Rồi một đám đông dân chúng tụ tập lại, đến gần, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo xung quanh bơ và dầu ấy và nói: ‘Này bơ và dầu, hãy chìm xuống! Này bơ và dầu, hãy lặn xuống! Này bơ và dầu, hãy đi xuống đáy!’ Này Gāmaṇi, ông nghĩ thế nào? Bơ và dầu ấy có thể nào do sự cầu xin, do sự tán thán, do sự chắp tay đi theo xung quanh của đám đông dân chúng mà chìm xuống, lặn xuống, hay đi xuống đáy không?” “Thưa không, bạch Thế Tôn.” “Cũng vậy, này Gāmaṇi, người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời thô ác, từ bỏ nói lời vô ích, không tham lam, không sân tâm, có chánh kiến. Dầu cho một đám đông dân chúng tụ tập lại, đến gần, cầu xin, tán thán, chắp tay đi theo xung quanh người ấy và nói: ‘Mong cho người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!’, nhưng sau khi thân hoại mạng chung, người ấy vẫn sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời an lạc.” Khi được nói như vậy, người trưởng làng Asibandhakaputta bạch với Thế Tôn: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! ... Kể từ hôm nay, mong Thế Tôn nhận con là một người cận sự nam đã quy y cho đến trọn đời.” Kinh thứ sáu.
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ aggaṁ; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo. Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ majjhimaṁ; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo. Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ, sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yaṁ aduṁ khettaṁ hīnaṁ jaṅgalaṁ ūsaraṁ pāpabhūmi; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā. Tesaṁ pāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyāti.
“To me, the monks and nuns are like the good field. I teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the laymen and laywomen are like the average field. I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the ascetics, brahmins, and wanderers of other religions are like the poor field, the bad ground of sand and salt. I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Hopefully they might understand even a single sentence, which would be for their lasting welfare and happiness.
“Này người trưởng làng, ví như thửa ruộng tốt nhất kia, các Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni của Ta cũng giống như vậy. Ta thuyết Pháp cho họ, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Này người trưởng làng, vì họ sống lấy Ta làm hòn đảo, lấy Ta làm nơi ẩn náu, lấy Ta làm nơi che chở, lấy Ta làm nơi nương tựa. Này người trưởng làng, ví như thửa ruộng hạng trung kia, các nam cư sĩ và nữ cư sĩ của Ta cũng giống như vậy. Ta cũng thuyết Pháp cho họ, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Này người trưởng làng, vì họ sống lấy Ta làm hòn đảo, lấy Ta làm nơi ẩn náu, lấy Ta làm nơi che chở, lấy Ta làm nơi nương tựa. Này người trưởng làng, ví như thửa ruộng xấu, đất cằn cỗi, bị nhiễm mặn, chất đất kém kia, các Sa-môn, Bà-la-môn, du sĩ ngoại đạo cũng giống như vậy. Ta cũng thuyết Pháp cho họ, pháp ấy toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Mong rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.”
Seyyathāpi, gāmaṇi, purisassa tayo udakamaṇikā—eko udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, eko udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, eko udakamaṇiko chiddo hārī parihārī. Taṁ kiṁ maññasi, gāmaṇi, asu puriso udakaṁ nikkhipitukāmo kattha paṭhamaṁ nikkhipeyya, yo vā so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī, yo vā so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī, yo vā so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī”ti?
“Asu, bhante, puriso udakaṁ nikkhipitukāmo, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyya, tattha nikkhipitvā, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī tattha nikkhipeyyapi, nopi nikkhipeyya. Taṁ kissa hetu? Antamaso bhaṇḍadhovanampi bhavissatī”ti.
Suppose a person had three water jars: one that’s uncracked and nonporous; one that’s uncracked but porous; and one that’s cracked and porous. What do you think? When that person wants to store water, where would they store it first: in the jar that’s uncracked and nonporous, the one that’s uncracked but porous, or the one that’s cracked and porous?”
“Sir, they’d store water first in the jar that’s uncracked and nonporous, then the one that’s uncracked but porous, then they may or may not store water in the one that’s cracked and porous. Why is that? Because at least it can be used for washing the dishes.”
“Này người trưởng làng, ví như một người đàn ông có ba cái chum nước: một cái chum không bị nứt, không bị rò, không bị rỉ; một cái chum không bị nứt, nhưng bị rò, bị rỉ; và một cái chum bị nứt, bị rò, bị rỉ. Này người trưởng làng, ông nghĩ thế nào? Người đàn ông ấy muốn đổ nước vào, ông ta sẽ đổ vào chum nào trước tiên: cái chum không bị nứt, không bị rò, không bị rỉ; cái chum không bị nứt, nhưng bị rò, bị rỉ; hay cái chum bị nứt, bị rò, bị rỉ?” “Bạch Thế Tôn, người đàn ông ấy muốn đổ nước vào, ông ta sẽ đổ vào cái chum không bị nứt, không bị rò, không bị rỉ. Sau khi đổ vào đó, ông ta sẽ đổ vào cái chum không bị nứt, nhưng bị rò, bị rỉ. Sau khi đổ vào đó, đối với cái chum bị nứt, bị rò, bị rỉ, ông ta có thể đổ vào hoặc không. Vì sao vậy? Vì ít nhất nó cũng sẽ dùng để rửa đồ đạc.”
“Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo ahārī aparihārī; evameva mayhaṁ bhikkhubhikkhuniyo. Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko acchiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ upāsakaupāsikāyo. Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Ete hi, gāmaṇi, maṁdīpā maṁleṇā maṁtāṇā maṁsaraṇā viharanti.
Seyyathāpi, gāmaṇi, yo so udakamaṇiko chiddo hārī parihārī; evameva mayhaṁ aññatitthiyā samaṇabrāhmaṇaparibbājakā. Tesāhaṁ dhammaṁ desemi—ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsemi. Taṁ kissa hetu? Appeva nāma ekaṁ padampi ājāneyyuṁ, taṁ nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Evaṁ vutte, asibandhakaputto gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“To me, the monks and nuns are like the water jar that’s uncracked and nonporous. I teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the laymen and laywomen are like the water jar that’s uncracked but porous. I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Because they live with me as their island, asylum, shelter, and refuge.
To me, the ascetics, brahmins, and wanderers of other religions are like the water jar that’s cracked and porous. I also teach them the Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And I reveal a spiritual practice that’s entirely full and pure. Why is that? Hopefully they might understand even a single sentence, which would be for their lasting welfare and happiness.”
When he said this, Asibandhaka’s son the chief said to the Buddha,
“Này Gāmaṇi, ví như có một cái bình nước không bị thủng, không bị rò rỉ, không bị thấm; cũng vậy là các Tỳ-khưu và Tỳ-khưu-ni của ta. Ta thuyết Pháp cho họ — toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Này Gāmaṇi, vì rằng họ sống với ta là hòn đảo, ta là nơi ẩn náu, ta là nơi bảo vệ, ta là nơi nương tựa. Này Gāmaṇi, ví như có một cái bình nước không bị thủng, nhưng bị rò rỉ, bị thấm; cũng vậy là các nam cư sĩ và nữ cư sĩ của ta. Ta thuyết Pháp cho họ — toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Này Gāmaṇi, vì rằng họ sống với ta là hòn đảo, ta là nơi ẩn náu, ta là nơi bảo vệ, ta là nơi nương tựa. Này Gāmaṇi, ví như có một cái bình nước bị thủng, bị rò rỉ, bị thấm; cũng vậy là các Sa-môn, Bà-la-môn, và du sĩ ngoại đạo. Ta cũng thuyết Pháp cho họ — toàn thiện ở phần đầu, toàn thiện ở phần giữa, toàn thiện ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn tự; Ta tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Vì sao vậy? Mong rằng họ có thể hiểu được dù chỉ một câu, điều ấy sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho họ.” Khi được nói như vậy, Gāmaṇi, con trai của Asibandhaka, bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn… (v.v)… Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn hãy ghi nhận con là người cư sĩ đã quy y trọn đời.” Kinh thứ bảy.
Sattamaṁ.
Này Gāmaṇi, vị Thánh đệ tử ấy, sau khi đã lìa tham lam, lìa sân hận, không si mê, tỉnh giác, chánh niệm, với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... với tâm câu hữu với xả, an trú biến mãn một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, ở khắp nơi, với tất cả, vị ấy an trú biến mãn toàn thể thế gian với tâm câu hữu với xả, rộng lớn, đại hành, vô lượng, không oán, không hận. Này Gāmaṇi, ví như một người thổi tù và có sức mạnh, không khó khăn làm cho bốn phương được biết; cũng vậy, này Gāmaṇi, khi tâm giải thoát bằng xả đã được tu tập như vậy, đã được làm cho sung mãn như vậy, thì nghiệp hữu hạn nào sẽ không còn tồn tại ở đó, không còn lưu lại ở đó.” Khi được nói như vậy, Gāmaṇi, con trai của Asibandhaka, bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn!... Xin Thế Tôn hãy xem con là một nam cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời đã quy y.” Hết phẩm thứ tám.