- Saṁyutta Nikāya 42.5
- 1. Gāmaṇivagga
Bản dịch
SN 42.5 — Kinh Người Nài Ngựa
Assārohasutta
Vi-n 1-8. (Giống như kinh trước, chỉ khác đấy là vị mã sư hay người huấn luyện ngựa).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 42.5
- 1. Chiefs
A Cavalryman
5. Kinh Người Nài Ngựa
Atha kho assāroho gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho assāroho gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ assārohānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo so assāroho saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti. Idha bhagavā kimāhā”ti? “Alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
Dutiyampi kho …pe… tatiyampi kho assāroho gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca: “sutaṁ metaṁ, bhante, pubbakānaṁ ācariyapācariyānaṁ assārohānaṁ bhāsamānānaṁ: ‘yo so assāroho saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti. Idha bhagavā kimāhā”ti?
Then a cavalry chief went up to the Buddha …
357. Rồi vị thôn trưởng, người nài ngựa, đi đến nơi Thế Tôn; sau khi đến, ông ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị thôn trưởng, người nài ngựa, bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, con đã được nghe điều này từ các vị thầy và thầy của các vị thầy đời trước, những người nài ngựa, khi họ nói rằng: ‘Người nài ngựa nào nỗ lực, cố gắng trong trận chiến, trong khi đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ khác đánh đập, giết chết, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Parajita.’ Về vấn đề này, Thế Tôn nói thế nào?” “Thôi đi, thôn trưởng, hãy để việc ấy lại; đừng hỏi Ta về việc ấy.” Lần thứ hai... (v.v)... Lần thứ ba, vị thôn trưởng, người nài ngựa, bạch với Thế Tôn điều này: “Bạch Thế Tôn, con đã được nghe điều này từ các vị thầy và thầy của các vị thầy đời trước, những người nài ngựa, khi họ nói rằng: ‘Người nài ngựa nào nỗ lực, cố gắng trong trận chiến, trong khi đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ khác đánh đập, giết chết, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Parajita.’ Về vấn đề này, Thế Tôn nói thế nào?”
“Addhā kho tyāhaṁ, gāmaṇi, na labhāmi: ‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’ti. Api ca kho tyāhaṁ byākarissāmi. Yo so, gāmaṇi, assāroho saṅgāme ussahati vāyamati tassa taṁ cittaṁ pubbe gahitaṁ dukkaṭaṁ duppaṇihitaṁ: ‘ime sattā haññantu vā bajjhantu vā ucchijjantu vā vinassantu vā mā ahesuṁ iti vā’ti. Tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajito nāma nirayo tattha upapajjati. Sace kho panassa evaṁ diṭṭhi hoti: ‘yo so assāroho saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi. Micchādiṭṭhikassa kho panāhaṁ, gāmaṇi, purisapuggalassa dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā”ti.
“Chắc chắn rồi, này thôn trưởng, Ta đã không thể ngăn ông, khi nói rằng: ‘Thôi đi, thôn trưởng, hãy để việc ấy lại; đừng hỏi Ta về việc ấy.’ Tuy nhiên, Ta sẽ giải thích cho ông. Này thôn trưởng, người nài ngựa nào nỗ lực, cố gắng trong trận chiến, tâm của người ấy trước đó đã bị nắm giữ, đã được thực hiện một cách tồi tệ, đã được hướng đến một cách tồi tệ rằng: ‘Mong rằng những chúng sanh này bị đánh đập, hoặc bị trói buộc, hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị hủy hoại, hoặc mong rằng chúng không tồn tại!’ Trong khi đang nỗ lực, cố gắng, người ấy bị kẻ khác đánh đập, giết chết, và sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào địa ngục tên là Parajita (Bị chinh phục). Và nếu người ấy có tà kiến như vầy: ‘Người nài ngựa nào nỗ lực, cố gắng trong trận chiến, trong khi đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ khác đánh đập, giết chết, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Parajita,’ thì đó là tà kiến của người ấy. Này thôn trưởng, đối với một người có tà kiến, Ta tuyên bố một trong hai cõi đi: hoặc là địa ngục, hoặc là cảnh giới súc sanh.”
Evaṁ vutte, assāroho gāmaṇi parodi, assūni pavattesi. “Etaṁ kho tyāhaṁ, gāmaṇi, nālatthaṁ: ‘alaṁ, gāmaṇi, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī’”ti. “Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha. Api cāhaṁ, bhante, pubbakehi ācariyapācariyehi assārohehi dīgharattaṁ nikato vañcito paluddho: ‘yo so assāroho saṅgāme ussahati vāyamati, tamenaṁ ussahantaṁ vāyamantaṁ pare hananti pariyāpādenti, so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā parajitānaṁ devānaṁ sahabyataṁ upapajjatī’”ti. “Abhikkantaṁ, bhante …pe… ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Pañcamaṁ.
“From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Khi được nói như vậy, vị thôn trưởng, người nài ngựa, khóc lóc, nước mắt tuôn rơi. “Này thôn trưởng, Ta đã không thể ngăn ông, khi nói rằng: ‘Thôi đi, thôn trưởng, hãy để việc ấy lại; đừng hỏi Ta về việc ấy’.” “Bạch Thế Tôn, con không khóc vì điều mà Thế Tôn đã nói với con như vậy. Nhưng, bạch Thế Tôn, trong một thời gian dài, con đã bị các vị thầy và thầy của các vị thầy đời trước, những người nài ngựa, lừa dối, lừa gạt, và phỉnh gạt rằng: ‘Người nài ngựa nào nỗ lực, cố gắng trong trận chiến, trong khi đang nỗ lực, cố gắng, bị kẻ khác đánh đập, giết chết, người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Parajita.’ Thật vi diệu, bạch Thế Tôn... (v.v)... Kể từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận con là người đã quy y trọn đời.” Hết kinh thứ năm.