- Saṁyutta Nikāya 4.14
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 4.14 — Kinh Patirūpa (Thích Hợp)
Patirūpasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn tên là Ekasālā. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp.
Vi-n 2 Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này, xung quanh có đại chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt đại chúng này.”
Vi-n 3 Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Thật không chút thích hợp,
Vi-n 4 (Thế Tôn):
Ðể Ngài giảng dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Chớ hành nghề đứng giữa.Với lòng từ, thương tưởng,
Bậc Giác Ngộ dạy người,
Giữa người thuận, kẻ nghịch,
Như Lai chơn giải thoát.
Vi-n 5 Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta … ” liền biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 4.14
- 2. Rule
Appropriate
4. Kinh Patirūpa (Thích Hợp)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu viharati ekasālāyaṁ brāhmaṇagāme.
Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ deseti.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kosalans near the brahmin village of Ekasālā.
Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople.
150. Một thời, Thế Tôn trú ở xứ Kosala, tại một làng Bà-la-môn ở Ekasālā. Bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết Pháp, có đông đảo hội chúng gia chủ vây quanh.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi: “ayaṁ kho samaṇo gotamo mahatiyā gihiparisāya parivuto dhammaṁ deseti. Yannūnāhaṁ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṁ vicakkhukammāyā”ti.
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra thought, “The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly of laypeople. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:
Bấy giờ, Ác ma Māra khởi lên ý nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết Pháp, có đông đảo hội chúng gia chủ vây quanh. Ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama để làm cho họ mê mờ.” Rồi Ác ma Māra đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nó nói với Thế Tôn bằng một bài kệ:
“Netaṁ tava patirūpaṁ, yadaññamanusāsasi; Anurodhavirodhesu, mā sajjittho tadācaran”ti.
“It’s not appropriate for you to instruct others. As you engage in this, don’t get caught up in favoring and opposing.”
“Việc ông giáo huấn người khác là không thích hợp với ông. Khi làm như vậy, chớ để dính mắc vào thuận và nghịch.”
“Hitānukampī sambuddho, yadaññamanusāsati; Anurodhavirodhehi, vippamutto tathāgato”ti.
“The Buddha instructs others out of compassion for their welfare. The Realized One is liberated from favoring and opposing.”
“Bậc Chánh Đẳng Giác, vì lòng bi mẫn và lợi ích, mà giáo huấn người khác. Đấng Như Lai đã hoàn toàn giải thoát khỏi thuận và nghịch.”
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta,” buồn rầu, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.