- Saṁyutta Nikāya 4.12
- 2. Dutiyavagga
Bản dịch
SN 4.12 — Kinh Kinnusīha (Tại Sao Như Sư Tử)
Kinnusīhasutta
Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp.
Vi-n 2 Rồi Ác ma suy nghĩ: “Sa-môn Gotama này xung quanh có đại chúng bao vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt đại chúng ấy.”
Vi-n 3 Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Sao Ngài lại rống lên,
Vi-n 4 (Thế Tôn):
Rống như loài sư tử,
Vô úy không sợ hãi,
Trước hội chúng đông đảo?
Nay Ngài có địch thủ,
Chớ nghĩ Ngài thắng trận!Bậc Ðại Hùng rống lên,
Vô úy trước đại chúng,
Như Lai chứng mười lực,
Vượt tham ái ở đời.
Vi-n 5 Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 4.12
- 2. Rule
Lion
2. Kinh Kinnusīha (Tại Sao Như Sư Tử)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena bhagavā mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. Now, at that time the Buddha was teaching Dhamma, surrounded by a large assembly.
148. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của Anāthapiṇḍika. Bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết Pháp, có đông đảo hội chúng vây quanh.
Atha kho mārassa pāpimato etadahosi: “ayaṁ kho samaṇo gotamo mahatiyā parisāya parivuto dhammaṁ deseti. Yannūnāhaṁ yena samaṇo gotamo tenupasaṅkameyyaṁ vicakkhukammāyā”ti.
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra thought, “The ascetic Gotama is teaching Dhamma, surrounded by a large assembly. Why don’t I go and pull the wool over their eyes?”
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:
Bấy giờ, Ác ma Māra khởi lên ý nghĩ: “Sa-môn Gotama này đang thuyết Pháp, có đông đảo hội chúng vây quanh. Ta hãy đi đến chỗ Sa-môn Gotama để làm cho họ mê mờ.” Rồi Ác ma Māra đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, nó nói với Thế Tôn bằng một bài kệ:
“Kinnu sīhova nadasi, parisāyaṁ visārado; Paṭimallo hi te atthi, vijitāvī nu maññasī”ti.
“Why now do you roar like a lion? You’re so self-assured in the assembly! For there is someone who’ll wrestle with you, so why do you imagine you’re the victor?”
“Sao ông rống như sư tử, tự tin giữa hội chúng? Ông có đối thủ nào chăng, hay ông nghĩ mình là người chiến thắng?”
“Nadanti ve mahāvīrā, parisāsu visāradā; Tathāgatā balappattā, tiṇṇā loke visattikan”ti.
“The great heroes they roar, self-assured in the assemblies. The Realized One, attained to power, has crossed over clinging to the world.”
“Các bậc Đại hùng quả thật rống lên, tự tin giữa các hội chúng. Các đấng Như Lai đã đạt được các năng lực, đã vượt qua sự dính mắc trong thế gian.”
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta,” buồn rầu, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.