- Saṁyutta Nikāya 4.10
- 1. Paṭhamavagga
Dutiyaāyusutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Dutiyaāyusutta
Vi-n 1 Tại Rājagaha (Vương Xá).
Tại đây, Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải ra đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.
Vi-n 2 Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:
Ngày đêm không trôi qua,
Vi-n 3 (Thế Tôn):
Thọ mạng không chấm dứt,
Thọ mạng người xoay vần,
Như vành theo trục xe.Ngày đêm có trôi qua,
Thọ mạng có chấm dứt,
Mạng người phải khô cạn,
Như suối nhỏ đầu non.
Vi-n 4 Rồi Ác ma biết được: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta”, buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Āyu Thứ Hai (Tuổi Thọ, 2)
146. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana (Trúc Lâm), nơi nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, đức Thế Tôn... đã nói điều này:
“Appamidaṁ, bhikkhave, manussānaṁ āyu. Gamanīyo samparāyo, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ. Natthi jātassa amaraṇaṁ. Yo, bhikkhave, ciraṁ jīvati, so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo”ti.
“Mendicants, the lifespan of humans is short. We are headed for lives to come. We must do what is skillful, we must practice the spiritual life. No one born is immortal. A long life is a hundred years or a little more.”
‘Này các Tỳ khưu, tuổi thọ của loài người thì ngắn ngủi. Phải đi đến đời sau, nên làm điều thiện, nên sống đời phạm hạnh. Người đã sanh ra không thể không chết. Này các Tỳ khưu, người nào sống lâu thì sống được một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn một chút.’
Atha kho māro pāpimā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
Then Māra the Wicked went up to the Buddha and addressed him in verse:
Khi ấy, Ác ma Pāpimā đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đã dùng kệ nói với đức Thế Tôn:
“Nāccayanti ahorattā, Jīvitaṁ nūparujjhati; Āyu anupariyāyati maccānaṁ, Nemīva rathakubbaran”ti.
“The days and nights don’t rush by, and life isn’t cut short. The life of mortals keeps rolling on, like a chariot’s rim around the hub.”
‘Ngày và đêm không trôi qua, mạng sống không bị hủy diệt; tuổi thọ của chúng sanh cứ tiếp nối, như vành xe theo trục xe.’
“Accayanti ahorattā, jīvitaṁ uparujjhati; Āyu khīyati maccānaṁ, kunnadīnaṁva odakan”ti.
“The days and nights rush by, and then life is cut short. The life of mortals wastes away, like the water in tiny streams.”
‘Ngày và đêm cứ trôi qua, mạng sống bị hủy diệt; tuổi thọ của chúng sanh bị hao mòn, như nước của những dòng sông nhỏ.’
Atha kho māro pāpimā “jānāti maṁ bhagavā, jānāti maṁ sugato”ti dukkhī dummano tatthevantaradhāyīti.
Then Māra the Wicked, thinking, “The Buddha knows me! The Holy One knows me!” miserable and sad, vanished right there.
Bấy giờ, Ác ma Māra: “Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta,” buồn rầu, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
Paṭhamo vaggo.
Tassuddānaṁ
Phẩm Thứ Nhất.
Tapokammañca nāgo ca, subhaṁ pāsena te duve; Sappo supati nandanaṁ, āyunā apare duveti.
(Kinh) Tapokamma, (kinh) Nāga, (kinh) Subha, hai (kinh) Pāsa, (kinh) Sappa, (kinh) Supati, (kinh) Nandana, và hai (kinh) Āyu khác.