- Saṁyutta Nikāya 36.8
- 1. Sagāthāvagga
Bản dịch
SN 36.8 — Kinh Bệnh (thứ hai)
Dutiyagelaññasutta
S.iv,213Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Vesālī, tại rừng Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn vào buổi chiều …
Vi-n 3-5. —Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? … (như kinh trước cho đến hết số 5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông …
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy rõ biết như sau: “Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy khởi lên có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên xúc này. Nhưng xúc này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên xúc khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao có thể thường trú được?”. Vị ấy trú, quán vô thường đối với xúc và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với xúc và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với xúc và lạc thọ bị đoạn diệt.
Vi-n 7-11. (Giống như kinh trước, từ số 7 đến số 11, chỉ khác ở đây là duyên xúc, chớ không phải thân này như kinh trước) ” … Ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu”.
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu … sẽ đi đến lắng dịu. (như kinh trước).
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.8
- 1. With Verses
The Infirmary (2nd)
8. Kinh Bệnh (thứ hai)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the infirmary, where he sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants:
256. Một thời, Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến nhà bệnh; sau khi đến, ngài ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi các Tỳ khưu:
“Sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṁ āgameyya. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
“Mendicants, a mendicant should await their time mindful and aware. This is my instruction to you.
“Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu nên có chánh niệm, tỉnh giác, chờ đợi thời điểm. Đây là lời giáo huấn của chúng ta cho các ngươi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī viharati … citte cittānupassī viharati … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
And how is a mendicant mindful? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … They meditate observing an aspect of the mind … They meditate observing an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant is mindful.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu có chánh niệm? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ… trú, quán tâm trên tâm… trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu có chánh niệm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti …pe… bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti.
Sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṁ āgameyya. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
And how is a mendicant aware? It’s when a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent. That’s how a mendicant is aware.
A mendicant should await their time mindful and aware. This is my instruction to you.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Tỳ khưu có tỉnh giác? Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu có tỉnh giác khi đi tới, khi đi lui… khi nói, khi im lặng. Này các Tỳ khưu, như vậy là Tỳ khưu có tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, Tỳ khưu nên có chánh niệm, tỉnh giác, chờ đợi thời điểm. Đây là lời giáo huấn của chúng ta cho các ngươi.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati sukhā vedanā. So evaṁ pajānāti: ‘uppannā kho myāyaṁ sukhā vedanā; sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. Kiṁ paṭicca? Imameva phassaṁ paṭicca. Ayaṁ kho pana phasso anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Aniccaṁ kho pana saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ phassaṁ paṭicca uppannā sukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti. So phasse ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. Tassa phasse ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato, vayānupassino viharato, virāgānupassino viharato, nirodhānupassino viharato, paṭinissaggānupassino viharato yo phasse ca sukhāya ca vedanāya rāgānusayo, so pahīyati.
While a mendicant is meditating like this—mindful, aware, diligent, keen, and resolute—if pleasant feelings arise, they understand: ‘A pleasant feeling has arisen in me. That’s dependent, not independent. Dependent on what? Dependent on this very contact. But this contact is impermanent, conditioned, dependently originated. So how could a pleasant feeling be permanent, since it has arisen dependent on contact that is impermanent, conditioned, and dependently originated?’ They meditate observing impermanence, vanishing, dispassion, cessation, and letting go in contact and pleasant feeling. As they do so, they give up the underlying tendency for greed for contact and pleasant feeling.
“Này các Tỳ khưu, nếu trong khi vị Tỳ khưu ấy trú như vậy, có chánh niệm, tỉnh giác, không buông lung, nhiệt tâm, quyết chí, một lạc thọ khởi lên. Vị ấy biết như sau: ‘Lạc thọ này đã khởi lên nơi ta; và nó khởi lên do có duyên, không phải không có duyên. Do duyên gì? Do duyên chính xúc này. Nhưng xúc này là vô thường, hữu vi, do duyên sinh. Do duyên xúc vô thường, hữu vi, do duyên sinh mà lạc thọ đã khởi lên, làm sao nó có thể thường hằng được?’ Vị ấy trú, quán tính vô thường trong xúc và trong lạc thọ; trú, quán tính biến hoại; trú, quán tính ly tham; trú, quán tính đoạn diệt; trú, quán tính từ bỏ. Trong khi vị ấy trú, quán tính vô thường, quán tính biến hoại, quán tính ly tham, quán tính đoạn diệt, quán tính từ bỏ trong xúc và trong lạc thọ, thì tùy miên tham ái nào đối với xúc và lạc thọ, tùy miên ấy được đoạn trừ.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ satassa …pe… viharato uppajjati dukkhā vedanā …pe… uppajjati adukkhamasukhā vedanā. So evaṁ pajānāti: ‘uppannā kho myāyaṁ adukkhamasukhā vedanā; sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. Kiṁ paṭicca? Imameva phassaṁ paṭicca.
(Yathā purimasutte, tathā vitthāretabbo.)
Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
While a mendicant is meditating like this—mindful, aware, diligent, keen, and resolute—if painful feelings arise … if neutral feelings arise, they understand: ‘A neutral feeling has arisen in me. That’s dependent, not independent. Dependent on what? Dependent on this very contact.’
(Tell in full as in the previous discourse.)
They understand: ‘When my body breaks up and my life is over, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’
“Nếu trong khi vị Tỳ khưu ấy trú như vậy… một khổ thọ khởi lên… một bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy biết như sau: ‘Bất khổ bất lạc thọ này đã khởi lên nơi ta; và nó khởi lên do có duyên, không phải không có duyên. Do duyên gì? Do duyên chính xúc này… Vị ấy biết rằng: ‘Sau khi thân hoại, sau khi sinh mạng chấm dứt, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, vì không được hoan nghênh, sẽ trở nên nguội lạnh.’”
Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya, tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. ‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. As the oil and the wick are used up, it would be extinguished due to not being fed.
In the same way, feeling the end of the body draw close, a mendicant understands: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life is over, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’”
“Này các Tỳ khưu, ví như ngọn đèn dầu cháy sáng là do duyên dầu và do duyên tim đèn. Do dầu và tim đèn ấy đã cạn kiệt, không có vật thực nuôi dưỡng, ngọn đèn sẽ tắt lịm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn.’ Trong khi cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn.’ Vị ấy biết rằng: ‘Sau khi thân hoại, sau khi sinh mạng chấm dứt, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, vì không được hoan nghênh, sẽ trở nên nguội lạnh.’” Kinh thứ tám.