- Saṁyutta Nikāya 36.7
- 1. Sagāthāvagga
Bản dịch
SN 36.7 — Kinh Bệnh (Thứ Nhất)
Paṭhamagelaññasutta
S.iv,210Vi-n 1 Một thời Thế Tôn trú ở Vesālī, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
Vi-n 4 Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: “Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?”. Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: “Khổ thọ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?”. Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt.
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: “Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?” Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.
Vi-n 9 Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy tuệ tri: “Ta không chấp trước thọ ấy”. Vị ấy tuệ tri: “Ta không hoan hỷ thọ ấy”. Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ … Nếu vị ấy cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: “Thọ ấy là vô thường”. Vị ấy tuệ tri: “Ta không chấp trước thọ ấy”. Vị ấy tuệ tri: “Ta không hoan hỷ thọ ấy”.
Vi-n 10 Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.
Vi-n 11 Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân”. Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng”. Vị ấy tuệ tri rằng: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu”.
Vi-n 12 Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân”. Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: “Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng”. Vị ấy tuệ tri rằng: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.7
- 1. With Verses
The Infirmary (1st)
7. Kinh Bệnh (Thứ Nhất)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena gilānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the infirmary, where he sat down on the seat spread out, and addressed the mendicants:
255. Một thời, Thế Tôn trú tại Vesālī, trong Đại Lâm, tại ngôi giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, sau khi ra khỏi nơi độc cư, đã đi đến nhà bệnh; sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ đã được soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
“Sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṁ āgameyya. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
“Mendicants, a mendicant should await their time mindful and aware. This is my instruction to you.
‘Này các Tỳ khưu, vị tỳ khưu có chánh niệm, có tỉnh giác, nên chờ đợi thời điểm. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ; vedanāsu vedanānupassī viharati …pe… citte cittānupassī viharati …pe… dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
And how is a mendicant mindful? It’s when a mendicant meditates by observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. They meditate observing an aspect of feelings … They meditate observing an aspect of the mind … They meditate observing an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world. That’s how a mendicant is mindful.
‘Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có chánh niệm? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các cảm thọ ... cho đến ... trú, quán tâm trên tâm ... cho đến ... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có chánh niệm.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti? Idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajānakārī hoti. Sato, bhikkhave, bhikkhu sampajāno kālaṁ āgameyya. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
And how is a mendicant aware? It’s when a mendicant acts with situational awareness when going out and coming back; when looking ahead and aside; when bending and extending the limbs; when bearing the outer robe, bowl and robes; when eating, drinking, chewing, and tasting; when urinating and defecating; when walking, standing, sitting, sleeping, waking, speaking, and keeping silent. That’s how a mendicant acts with situational awareness. A mendicant should await their time mindful and aware. This is my instruction to you.
‘Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị tỳ khưu có tỉnh giác? Này các Tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu hành động trong tỉnh giác khi đi tới, đi lui; hành động trong tỉnh giác khi nhìn thẳng, nhìn quanh; hành động trong tỉnh giác khi co lại, duỗi ra; hành động trong tỉnh giác khi mang y tăng-già-lê, bát, và y; hành động trong tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; hành động trong tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; hành động trong tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng. Này các Tỳ khưu, như vậy là vị tỳ khưu có tỉnh giác. Này các Tỳ khưu, vị tỳ khưu có chánh niệm, có tỉnh giác, nên chờ đợi thời điểm. Đây là lời giáo huấn của chúng ta dành cho các ngươi.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati sukhā vedanā, so evaṁ pajānāti: ‘uppannā kho myāyaṁ sukhā vedanā. Sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. Kiṁ paṭicca? Imameva kāyaṁ paṭicca. Ayaṁ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Aniccaṁ kho pana saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ kāyaṁ paṭicca uppannā sukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti. So kāye ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. Tassa kāye ca sukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato, vayānupassino viharato, virāgānupassino viharato, nirodhānupassino viharato, paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca sukhāya ca vedanāya rāgānusayo, so pahīyati.
While a mendicant is meditating like this—mindful, aware, diligent, keen, and resolute—if pleasant feelings arise, they understand: ‘A pleasant feeling has arisen in me. That’s dependent, not independent. Dependent on what? Dependent on my own body. But this body is impermanent, conditioned, dependently originated. So how could a pleasant feeling be permanent, since it has arisen dependent on a body that is impermanent, conditioned, and dependently originated?’ They meditate observing impermanence, vanishing, dispassion, cessation, and letting go in the body and pleasant feeling. As they do so, they give up the underlying tendency to greed for the body and pleasant feeling.
‘Này các Tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu đang trú với chánh niệm, tỉnh giác, không dể duôi, nhiệt tâm, với tâm đã được định hướng như vậy, một cảm thọ lạc khởi lên, vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Cảm thọ lạc này đã khởi lên nơi ta. Và nó là do duyên sanh, không phải không do duyên sanh. Duyên vào cái gì? Duyên vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Một cảm thọ lạc đã khởi lên do duyên vào thân vốn vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thì làm sao có thể thường hằng được?’ Vị ấy trú, quán vô thường trên thân và trên cảm thọ lạc; trú, quán sự hoại diệt; trú, quán sự ly tham; trú, quán sự đoạn diệt; trú, quán sự từ bỏ. Đối với vị ấy, trong khi trú quán vô thường, trú quán sự hoại diệt, trú quán sự ly tham, trú quán sự đoạn diệt, trú quán sự từ bỏ trên thân và trên cảm thọ lạc, tham tùy miên nào liên quan đến thân và cảm thọ lạc, tham tùy miên ấy được đoạn tận.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati dukkhā vedanā. So evaṁ pajānāti: ‘uppannā kho myāyaṁ dukkhā vedanā. Sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. Kiṁ paṭicca? Imameva kāyaṁ paṭicca. Ayaṁ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Aniccaṁ kho pana saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ kāyaṁ paṭicca uppannā dukkhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti. So kāye ca dukkhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. Tassa kāye ca dukkhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato …pe… paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca dukkhāya ca vedanāya paṭighānusayo, so pahīyati.
While a mendicant is meditating like this—mindful, aware, diligent, keen, and resolute—if painful feelings arise, they understand: ‘A painful feeling has arisen in me. That’s dependent, not independent. Dependent on what? Dependent on my own body. But this body is impermanent, conditioned, dependently originated. So how could a painful feeling be permanent, since it has arisen dependent on a body that is impermanent, conditioned, and dependently originated?’ They meditate observing impermanence, vanishing, dispassion, cessation, and letting go in the body and painful feeling. As they do so, they give up the underlying tendency to aversion toward the body and painful feeling.
‘Này các Tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu đang trú với chánh niệm, tỉnh giác, không dể duôi, nhiệt tâm, với tâm đã được định hướng như vậy, một cảm thọ khổ khởi lên, vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Cảm thọ khổ này đã khởi lên nơi ta. Và nó là do duyên sanh, không phải không do duyên sanh. Duyên vào cái gì? Duyên vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Một cảm thọ khổ đã khởi lên do duyên vào thân vốn vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thì làm sao có thể thường hằng được?’ Vị ấy trú, quán vô thường trên thân và trên cảm thọ khổ; trú, quán sự hoại diệt; trú, quán sự ly tham; trú, quán sự đoạn diệt; trú, quán sự từ bỏ. Đối với vị ấy, trong khi trú quán vô thường ... cho đến ... trú quán sự từ bỏ trên thân và trên cảm thọ khổ, sân tùy miên nào liên quan đến thân và cảm thọ khổ, sân tùy miên ấy được đoạn tận.
Tassa ce, bhikkhave, bhikkhuno evaṁ satassa sampajānassa appamattassa ātāpino pahitattassa viharato uppajjati adukkhamasukhā vedanā, so evaṁ pajānāti: ‘uppannā kho myāyaṁ adukkhamasukhā vedanā. Sā ca kho paṭicca, no appaṭicca. Kiṁ paṭicca? Imameva kāyaṁ paṭicca. Ayaṁ kho pana kāyo anicco saṅkhato paṭiccasamuppanno. Aniccaṁ kho pana saṅkhataṁ paṭiccasamuppannaṁ kāyaṁ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā kuto niccā bhavissatī’ti. So kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya aniccānupassī viharati, vayānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. Tassa kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya aniccānupassino viharato …pe… paṭinissaggānupassino viharato, yo kāye ca adukkhamasukhāya ca vedanāya avijjānusayo, so pahīyati.
While a mendicant is meditating like this—mindful, aware, diligent, keen, and resolute—if neutral feelings arise, they understand: ‘A neutral feeling has arisen in me. That’s dependent, not independent. Dependent on what? Dependent on my own body. But this body is impermanent, conditioned, dependently originated. So how could a neutral feeling be permanent, since it has arisen dependent on a body that is impermanent, conditioned, and dependently originated?’ They meditate observing impermanence, vanishing, dispassion, cessation, and letting go in the body and neutral feeling. As they do so, they give up the underlying tendency to ignorance toward the body and neutral feeling.
‘Này các Tỳ khưu, nếu trong khi vị tỳ khưu đang trú với chánh niệm, tỉnh giác, không dể duôi, nhiệt tâm, với tâm đã được định hướng như vậy, một cảm thọ không-khổ-không-lạc khởi lên, vị ấy tuệ tri như vầy: ‘Cảm thọ không-khổ-không-lạc này đã khởi lên nơi ta. Và nó là do duyên sanh, không phải không do duyên sanh. Duyên vào cái gì? Duyên vào chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Một cảm thọ không-khổ-không-lạc đã khởi lên do duyên vào thân vốn vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thì làm sao có thể thường hằng được?’ Vị ấy trú, quán vô thường trên thân và trên cảm thọ không-khổ-không-lạc; trú, quán sự hoại diệt; trú, quán sự ly tham; trú, quán sự đoạn diệt; trú, quán sự từ bỏ. Đối với vị ấy, trong khi trú quán vô thường ... cho đến ... trú quán sự từ bỏ trên thân và trên cảm thọ không-khổ-không-lạc, vô minh tùy miên nào liên quan đến thân và cảm thọ không-khổ-không-lạc, vô minh tùy miên ấy được đoạn tận.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti; dukkhañce vedanaṁ vedayati …pe… adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, sā aniccāti pajānāti, anajjhositāti pajānāti, anabhinanditāti pajānāti.
So sukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati; dukkhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati; adukkhamasukhañce vedanaṁ vedayati, visaññutto naṁ vedayati.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. ‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
If they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it. If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
If they feel a pleasant feeling, they feel it detached. If they feel a painful feeling, they feel it detached. If they feel a neutral feeling, they feel it detached.
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’
“Vị ấy, nếu cảm thọ lạc thọ, vị ấy biết rằng: ‘Nó là vô thường.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không bị tham ái chi phối.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không được hoan nghênh.’ Nếu cảm thọ khổ thọ, vị ấy biết rằng: ‘Nó là vô thường.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không bị tham ái chi phối.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không được hoan nghênh.’ Nếu cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy biết rằng: ‘Nó là vô thường.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không bị tham ái chi phối.’ Vị ấy biết rằng: ‘Nó không được hoan nghênh.’ Vị ấy, nếu cảm thọ lạc thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị ràng buộc. Nếu cảm thọ khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị ràng buộc. Nếu cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách không bị ràng buộc. Vị ấy, trong khi cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn.’ Trong khi cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn.’ Vị ấy biết rằng: ‘Sau khi thân hoại, sau khi sinh mạng chấm dứt, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, vì không được hoan nghênh, sẽ trở nên nguội lạnh.’”
Seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya, tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya;
evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. Jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti. ‘Kāyassa bhedā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti.
Sattamaṁ.
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn. As the oil and the wick are used up, it would be extinguished due to not being fed.
In the same way, feeling the end of the body draw close, a mendicant understands: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, a mendicant understands: ‘I feel the end of life draw close.’ They understand: ‘When my body breaks up and my life is over, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’”
“Này các Tỳ khưu, ví như ngọn đèn dầu cháy sáng là do duyên dầu và do duyên tim đèn. Do dầu và tim đèn ấy đã cạn kiệt, không có vật thực nuôi dưỡng, ngọn đèn sẽ tắt lịm. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu trong khi cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có thân làm giới hạn.’ Trong khi cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn, vị ấy biết rằng: ‘Tôi đang cảm thọ cảm thọ có sinh mạng làm giới hạn.’ Vị ấy biết rằng: ‘Sau khi thân hoại, sau khi sinh mạng chấm dứt, ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, vì không được hoan nghênh, sẽ trở nên nguội lạnh.’” Kinh thứ bảy.