- Saṁyutta Nikāya 36.27
- 3. Aṭṭhasatapariyāyavagga
Bản dịch
SN 36.27 — Kinh Sa Môn Và Bà La Môn Thứ Nhất
Paṭhamasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của ba thọ này …
Vi-n 4 … như thật tuệ tri … với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 36.27
- 3. The Explanation of the Hundred and Eight
Ascetics and Brahmins (1st)
7. Kinh Sa Môn Và Bà La Môn Thứ Nhất
“Tisso imā, bhikkhave, vedanā. Katamā tisso? Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ nappajānanti. Na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā imāsaṁ tissannaṁ vedanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ pajānanti. Te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā. Te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca, diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, there are these three feelings. What three? Pleasant, painful, and neutral feeling.
There are ascetics and brahmins who don’t truly understand these three feelings’ gratification, drawback, and escape. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
There are ascetics and brahmins who do truly understand these three feelings’ gratification, drawback, and escape. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
275. “Này các Tỳ khưu, có ba loại thọ này. Ba loại nào? Lạc thọ, khổ thọ, và thọ không khổ không lạc. Này các Tỳ khưu, bất cứ Sa môn hay Bà la môn nào không biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của ba loại thọ này, thì này các Tỳ khưu, đối với Ta, các vị Sa môn hay Bà la môn ấy không được xem là Sa môn giữa các Sa môn, hay không được xem là Bà la môn giữa các Bà la môn. Và các vị tôn giả ấy không tự mình chứng ngộ với thắng trí, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại mục đích của Sa môn hay mục đích của Bà la môn. Và này các Tỳ khưu, bất cứ Sa môn hay Bà la môn nào biết như thật về sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự xuất ly của ba loại thọ này, thì này các Tỳ khưu, đối với Ta, các vị Sa môn hay Bà la môn ấy được xem là Sa môn giữa các Sa môn, và được xem là Bà la môn giữa các Bà la môn. Và các vị tôn giả ấy tự mình chứng ngộ với thắng trí, thành tựu và an trú ngay trong hiện tại mục đích của Sa môn và mục đích của Bà la môn.”