- Saṁyutta Nikāya 35.86
- 9. Channavagga
Bản dịch
SN 35.86 — Kinh Pháp Tóm Tắt
Saṅkhittadhammasutta
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda … bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn vắn tắt thuyết pháp cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4-6. —Ông nghĩ thế nào, này Ānanda, mắt là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Các sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—… Nhãn thức … Nhãn xúc … Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn … Tai … Mũi …
Vi-n 7-9. … Lưỡi … Thân … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 10 —Thấy vậy, này Ānanda, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt … nhàm chán đối với nhãn xúc … Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.86
- 9. With Channa
A Teaching In Brief
3. Kinh Pháp Tóm Tắt
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
Seated to one side, Venerable Ānanda said to the Buddha:
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
86. Tôn giả Ānanda ngồi xuống một bên, bạch với Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con một cách tóm tắt, để sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, con có thể sống một mình, ẩn dật, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.”
“Taṁ kiṁ maññasi, ānanda, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, Ānanda? Is the eye permanent or impermanent?”
“Này Ānanda, con nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý để xem xét cái ấy rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch Thế Tôn, không hợp lý.”
“Rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
“Are sights …
“Các sắc là thường hay vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” ...v.v...
yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
The pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on eye contact: is that permanent or impermanent?”
“Nhãn thức... và bất cứ cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc nào khởi lên do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý để xem xét cái ấy rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ không?”
“No hetaṁ, bhante” …pe….
“No, sir.” …
“Bạch Thế Tôn, không hợp lý.” ...v.v...
“Jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
“Is the ear … nose … tongue … body … mind …
“Lưỡi là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante” …pe….
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.” ...v.v...
“Jivhāviññāṇaṁ … jivhāsamphasso …pe… yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
The pleasant, painful, or neutral feeling that arises dependent on mind contact: is that permanent or impermanent?”
“Thiệt thức... thiệt xúc... và bất cứ cảm thọ lạc, khổ, hay không khổ không lạc nào khởi lên do duyên ý xúc, cái ấy cũng là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
“Bạch ngài, là khổ.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ: ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến hoại, có hợp lý chăng khi xem xét cái ấy rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
“Bạch ngài, điều ấy không hợp lý.”
“Evaṁ passaṁ, ānanda, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati …pe… cakkhusamphassepi nibbindati …pe…
yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Tatiyaṁ.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact.
They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
“Này Ānanda, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với con mắt... (như trên)... trở nên nhàm chán đối với xúc chạm của mắt... (như trên)... và đối với cảm thọ nào khởi lên do duyên xúc chạm của ý, dù là lạc, khổ, hay không khổ không lạc, vị ấy cũng trở nên nhàm chán. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, có trí tuệ rằng: ‘Đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa.’” Kinh thứ ba.