- Saṁyutta Nikāya 35.4
- 1. Aniccavagga
Bản dịch
SN 35.4 — Kinh Vô Thường Về Ngoại Xứ
Bāhirāniccasutta
Vi-n 3 —Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-7. Các tiếng … Các hương … Các vị … Các xúc …
Vi-n 8 Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 9 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.4
- 1. Impermanence
The Exterior as Impermanent
4. Kinh Vô Thường Về Ngoại Xứ
“Rūpā, bhikkhave, aniccā. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā. Yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Saddā … gandhā … rasā … phoṭṭhabbā … dhammā aniccā. Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ; yaṁ dukkhaṁ tadanattā. Yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpesupi nibbindati, saddesupi nibbindati, gandhesupi nibbindati, rasesupi nibbindati, phoṭṭhabbesupi nibbindati, dhammesupi nibbindati. Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Catutthaṁ.
“Mendicants, sights are impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Sounds, smells, tastes, touches, and ideas are impermanent. What’s impermanent is suffering. What’s suffering is not-self. And what’s not-self should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
4. "Này các tỳ khưu, các sắc là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì khổ, cái đó là vô ngã. Cái gì vô ngã, nên thấy điều ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: 'Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'. Các tiếng... các mùi... các vị... các vật xúc chạm... các pháp là vô thường. Cái gì vô thường, cái đó là khổ; cái gì khổ, cái đó là vô ngã. Cái gì vô ngã, nên thấy điều ấy bằng chánh trí tuệ đúng như thật rằng: 'Cái này không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi'. Này các tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có học thức trở nên nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật xúc chạm, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; trong sự giải thoát, có trí tuệ rằng 'đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa'." Kinh thứ tư.