- Saṁyutta Nikāya 35.27
- 3. Sabbavagga
Bản dịch
SN 35.27 — Kinh Không Liễu Tri thứ hai
Dutiyaaparijānanasutta
Vi-n 1 …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả, thời không có thể đoạn tận khổ đau.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái gì thời không có thể đoạn tận khổ đau?
Vi-n 4-6. Chính là mắt, là các sắc, là nhãn thức, là các pháp do nhãn thức nhận biết … tai … mũi …
Vi-n 7-8. Chính là lưỡi, là các vị, là thiệt thức, là các pháp do thiệt thức nhận biết …
Vi-n 9 Chính là thân, là các xúc, là thân thức, là các pháp do thân thức nhận biết …
Vi-n 10 Và chính là ý, là các pháp, là ý thức, là các pháp do ý thức nhận biết …
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả cái ấy, nên không có thể đoạn tận khổ đau.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.
Này các Tỷ-kheo, thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái gì thời có thể đoạn tận khổ đau?
Vi-n 13-15. Chính là mắt, chính là các sắc, chính là nhãn thức, chính là các pháp do nhãn thức nhận biết … chính là tai … chính là mũi …
Vi-n 16-17. Chính là lưỡi, chính là các vị, chính là thiệt thức, chính là các pháp do thiệt thức nhận biết …
Vi-n 18 Chính là ý, chính là các pháp, chính là ý thức, chính là các pháp do ý thức nhận biết.
Vi-n 19 Này các Tỷ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả cái ấy, thời có thể đoạn tận khổ đau.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.27
- 3. All
Without Completely Understanding (2nd)
5. Kinh Không Liễu Tri thứ hai
“Sabbaṁ, bhikkhave, anabhijānaṁ aparijānaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya. Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ anabhijānaṁ aparijānaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya?
Yañca, bhikkhave, cakkhu, ye ca rūpā, yañca cakkhuviññāṇaṁ, ye ca cakkhuviññāṇaviññātabbā dhammā …pe…
yā ca jivhā, ye ca rasā, yañca jivhāviññāṇaṁ, ye ca jivhāviññāṇaviññātabbā dhammā; yo ca kāyo, ye ca phoṭṭhabbā, yañca kāyaviññāṇaṁ, ye ca kāyaviññāṇaviññātabbā dhammā;
yo ca mano, ye ca dhammā, yañca manoviññāṇaṁ, ye ca manoviññāṇaviññātabbā dhammā—
idaṁ kho, bhikkhave, sabbaṁ anabhijānaṁ aparijānaṁ avirājayaṁ appajahaṁ abhabbo dukkhakkhayāya.
“Mendicants, without directly knowing and completely understanding the all, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering. And what is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering?
The eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness.
The ear … nose … tongue … body …
The mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness.
This is the all, without directly knowing and completely understanding which, without dispassion for it and giving it up, you can’t end suffering.
27. “Này các Tỳ khưu, người nào không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả thì không có khả năng đoạn tận khổ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả thì không có khả năng đoạn tận khổ? Này các Tỳ khưu, con mắt, các sắc, nhãn thức, và các pháp được nhận biết qua nhãn thức; ... lưỡi, các vị, nhĩ thức, và các pháp được nhận biết qua nhĩ thức; thân, các xúc, thân thức, và các pháp được nhận biết qua thân thức; ý, các pháp, ý thức, và các pháp được nhận biết qua ý thức – này các Tỳ khưu, đây chính là không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả thì không có khả năng đoạn tận khổ.”
Sabbaṁ, bhikkhave, abhijānaṁ parijānaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāya. Kiñca, bhikkhave, sabbaṁ abhijānaṁ parijānaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāya?
Yañca, bhikkhave, cakkhu, ye ca rūpā, yañca cakkhuviññāṇaṁ, ye ca cakkhuviññāṇaviññātabbā dhammā …pe…
yā ca jivhā, ye ca rasā, yañca jivhāviññāṇaṁ, ye ca jivhāviññāṇaviññātabbā dhammā; yo ca kāyo, ye ca phoṭṭhabbā, yañca kāyaviññāṇaṁ, ye ca kāyaviññāṇaviññātabbā dhammā;
yo ca mano, ye ca dhammā, yañca manoviññāṇaṁ, ye ca manoviññāṇaviññātabbā dhammā—
idaṁ kho, bhikkhave, sabbaṁ abhijānaṁ parijānaṁ virājayaṁ pajahaṁ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti.
Pañcamaṁ.
By directly knowing and completely understanding the all, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering. And what is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering?
The eye, sights, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness.
The ear … nose … tongue … body …
The mind, ideas, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness.
This is the all, directly knowing and completely understanding which, having dispassion for it and giving it up, you can end suffering.”
“Này các Tỳ khưu, người nào thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả thì có khả năng đoạn tận khổ. Và này các Tỳ khưu, thế nào là thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả thì có khả năng đoạn tận khổ? Này các Tỳ khưu, con mắt, các sắc, nhãn thức, và các pháp được nhận biết qua nhãn thức; ... lưỡi, các vị, nhĩ thức, và các pháp được nhận biết qua nhĩ thức; thân, các xúc, thân thức, và các pháp được nhận biết qua thân thức; ý, các pháp, ý thức, và các pháp được nhận biết qua ý thức – này các Tỳ khưu, đây chính là thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ tất cả thì có khả năng đoạn tận khổ.” Kinh thứ năm.