- Saṁyutta Nikāya 35.235
- 18. Samuddavagga
Bản dịch
SN 35.235 — Kinh Lời Dạy Về Sự Rực Cháy
Ādittapariyāyasutta
Vi-n 1 —Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn lửa cháy, pháp môn Chánh pháp?
Vi-n 2 Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không có chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các sắc do mắt nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.
Vi-n 3 Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Như vậy, không chấp thủ tướng riêng, không chấp thủ tướng chung đối với các tiếng do tai nhận thức, này các Tỷ-kheo, thức có thể vững trú, kiên trú, bị trói buộc bởi vị ngọt tướng chung, hay bị trói buộc bởi vị ngọt tướng riêng. Trong thời gian ấy, nếu mệnh chung, thời sự kiện này có thể xảy ra: Ði thác sanh vào một trong hai sanh thú này: địa ngục hay bàng sanh.
Vi-n 4-6. Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn, này các Tỷ-kheo, nếu tỷ căn bị phá hủy với một cái kềm sắc bén, bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn … nếu thiệt căn bị hủy hoại với một con dao sắc bén hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn … nếu thân căn bị hủy hoại với một cái kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn …
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, do thấy nguy hiểm này, Ta nói như vầy: Thật tốt hơn là nằm ngủ. Nằm ngủ, Ta nói rằng là trống không đối với các loài có sinh mạng. Ta nói rằng là vô quả đối với các loài có sanh mạng. Ta nói rằng là mù mờ đối với các loài có sanh mạng. Vì rằng nếu ngủ, thời không có suy nghĩ những vấn đề để có thể bị những vấn đề tư duy chinh phục, để có thể phá hòa hợp Tăng. Này các Tỷ-kheo, thấy sự trống không của nằm ngủ và sự nguy hiểm của tỉnh thức, Ta nói như vậy.
Vi-n 8 Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Hãy dừng lại, chớ để nhãn căn bị hủy hoại với một cây kim bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mắt là vô thường. Các sắc là vô thường. Nhãn thức là vô thường. Nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.
Vi-n 9 Hãy dừng lại, chớ để nhĩ căn bị hủy hoại với một cái dùi bằng sắt nung đỏ, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, tai là vô thường. Các tiếng là vô thường. Nhĩ thức là vô thường. Nhĩ xúc là vô thường. Phàm duyên nhĩ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.
Vi-n 10 Hãy dừng lại, chớ để tỷ căn bị hủy hoại với một cái kềm bằng sắc bén bị hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, mũi là vô thường. Các hương là vô thường. Tỷ thức là vô thường. Tỷ xúc là vô thường. Phàm duyên tỷ xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.
Vi-n 11 Hãy dừng lại, chớ để thiệt căn bị hủy hoại bởi một con dao sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, lưỡi là vô thường. Các vị là vô thường. Thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường. Phàm duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.
Vi-n 12 Hãy dừng lại, chớ để thân căn bị hủy hoại bởi một lưỡi kiếm sắc bén, hừng cháy, rực cháy, cháy lửa ngọn. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, thân căn là vô thường. Các xúc là vô thường. Thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường. Phàm duyên thân xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’.
Vi-n 13 Hãy dừng lại, chớ nằm ngủ. Ta hãy tác ý như sau: ‘Ðây, ý căn là vô thường. Các pháp là vô thường. Ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; cảm thọ ấy là vô thường’”.
Vi-n 14 Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy … nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy nhàm chán đối với cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn lửa cháy. Ðây là pháp môn Chánh pháp.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 35.235
- 18. The Ocean
The Exposition on Burning
8. Kinh Lời Dạy Về Sự Rực Cháy
“Ādittapariyāyaṁ vo, bhikkhave, dhammapariyāyaṁ desessāmi. Taṁ suṇātha.
Katamo ca, bhikkhave, ādittapariyāyo, dhammapariyāyo?
Varaṁ, bhikkhave, tattāya ayosalākāya ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya cakkhundriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ, na tveva cakkhuviññeyyesu rūpesu anubyañjanaso nimittaggāho.
“Mendicants, I will teach you an exposition of the teaching on burning. Listen …
And what is the exposition of the teaching on burning?
You’d be better off mutilating your eye faculty with a red-hot iron nail, burning, blazing, and glowing, than getting caught up in the features by way of the details in sights known by the eye.
235. Này các tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các ông bài pháp thoại, lời dạy về sự rực cháy. Hãy lắng nghe điều ấy. Và này các tỳ khưu, thế nào là bài pháp thoại, lời dạy về sự rực cháy? Này các tỳ khưu, thà rằng nhãn căn bị dùi bằng một que sắt nung đỏ, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt, còn hơn là nắm bắt tướng chung và tướng riêng nơi các sắc pháp được nhận biết bởi nhãn thức. Này các tỳ khưu, nếu thức đang tồn tại mà tồn tại trong sự trói buộc bởi khoái lạc ở tướng chung, hoặc trói buộc bởi khoái lạc ở tướng riêng, và nếu vào lúc ấy mệnh chung, có trường hợp này xảy ra là người ấy sẽ đi đến một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này mà Ta nói như vậy.
Varaṁ, bhikkhave, tiṇhena ayosaṅkunā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena sotindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ, na tveva sotaviññeyyesu saddesu anubyañjanaso nimittaggāho. Nimittassādagathitaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṁ vā tasmiñce samaye kālaṁ kareyya, ṭhānametaṁ vijjati, yaṁ dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ gaccheyya—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, ādīnavaṁ disvā evaṁ vadāmi.
You’d be better off mutilating your ear faculty with a sharp iron spike …
Này các tỳ khưu, thà rằng nhĩ căn bị dùi bằng một cái dùi sắt sắc bén, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt, còn hơn là nắm bắt tướng chung và tướng riêng nơi các thanh trần được nhận biết bởi nhĩ thức. Này các tỳ khưu, nếu thức đang tồn tại mà tồn tại trong sự trói buộc bởi khoái lạc ở tướng chung, hoặc trói buộc bởi khoái lạc ở tướng riêng, và nếu vào lúc ấy mệnh chung, có trường hợp này xảy ra là người ấy sẽ đi đến một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này mà Ta nói như vậy.
Varaṁ, bhikkhave, tiṇhena nakhacchedanena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena ghānindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ, na tveva ghānaviññeyyesu gandhesu anubyañjanaso nimittaggāho. Nimittassādagathitaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṁ vā tasmiñce samaye kālaṁ kareyya. Ṭhānametaṁ vijjati, yaṁ dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ gaccheyya—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, ādīnavaṁ disvā evaṁ vadāmi.
You’d be better off mutilating your nose faculty with a sharp nail cutter …
Này các tỳ khưu, thà rằng tỷ căn bị cắt bằng một cái dao cắt móng sắc bén, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt, còn hơn là nắm bắt tướng chung và tướng riêng nơi các hương trần được nhận biết bởi tỷ thức. Này các tỳ khưu, nếu thức đang tồn tại mà tồn tại trong sự trói buộc bởi khoái lạc ở tướng chung, hoặc trói buộc bởi khoái lạc ở tướng riêng, và nếu vào lúc ấy mệnh chung, có trường hợp này xảy ra là người ấy sẽ đi đến một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này mà Ta nói như vậy.
Varaṁ, bhikkhave, tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena jivhindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ, na tveva jivhāviññeyyesu rasesu anubyañjanaso nimittaggāho. Nimittassādagathitaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṁ vā tasmiñce samaye kālaṁ kareyya. Ṭhānametaṁ vijjati, yaṁ dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ gaccheyya—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, ādīnavaṁ disvā evaṁ vadāmi.
You’d be better off mutilating your tongue faculty with a sharp razor …
Này các tỳ khưu, thà rằng thiệt căn bị cắt bằng một con dao cạo sắc bén, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt, còn hơn là nắm bắt tướng chung và tướng riêng nơi các vị trần được nhận biết bởi thiệt thức. Này các tỳ khưu, nếu thức đang tồn tại mà tồn tại trong sự trói buộc bởi khoái lạc ở tướng chung, hoặc trói buộc bởi khoái lạc ở tướng riêng, và nếu vào lúc ấy mệnh chung, có trường hợp này xảy ra là người ấy sẽ đi đến một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này mà Ta nói như vậy.
Varaṁ, bhikkhave, tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya kāyindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ, na tveva kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu anubyañjanaso nimittaggāho. Nimittassādagathitaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, anubyañjanassādagathitaṁ vā tasmiñce samaye kālaṁ kareyya. Ṭhānametaṁ vijjati, yaṁ dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ gaccheyya—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, ādīnavaṁ disvā evaṁ vadāmi.
You’d be better off mutilating your body faculty with a sharp spear, burning, blazing, and glowing, than getting caught up in the features by way of the details in touches known by the body. Should consciousness tied to gratification in the features or details continue to remain, and you were to die at that time, it’s possible you would go to one of two destinations: hell or the animal realm. I speak having seen this drawback.
Này các tỳ khưu, thà rằng thân căn bị đâm bằng một ngọn giáo sắc bén, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt, còn hơn là nắm bắt tướng chung và tướng riêng nơi các xúc trần được nhận biết bởi thân thức. Này các tỳ khưu, nếu thức đang tồn tại mà tồn tại trong sự trói buộc bởi khoái lạc ở tướng chung, hoặc trói buộc bởi khoái lạc ở tướng riêng, và nếu vào lúc ấy mệnh chung, có trường hợp này xảy ra là người ấy sẽ đi đến một trong hai cõi: hoặc là địa ngục, hoặc là loài súc sanh. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này mà Ta nói như vậy.
Varaṁ, bhikkhave, sottaṁ. Sottaṁ kho panāhaṁ, bhikkhave, vañjhaṁ jīvitānaṁ vadāmi, aphalaṁ jīvitānaṁ vadāmi, momūhaṁ jīvitānaṁ vadāmi, na tveva tathārūpe vitakke vitakkeyya yathārūpānaṁ vitakkānaṁ vasaṁ gato saṅghaṁ bhindeyya. Imaṁ khvāhaṁ, bhikkhave, vañjhaṁ jīvitānaṁ ādīnavaṁ disvā evaṁ vadāmi.
You’d be better off sleeping. For I say that sleep is useless, fruitless, and folly for the living. But while you’re asleep you won’t fall under the sway of such thoughts that would make you create a schism in the Saṅgha. I speak having seen this drawback.
Này các tỳ khưu, thà rằng ngủ còn hơn. Này các tỳ khưu, Ta tuyên bố rằng giấc ngủ là sự cằn cỗi đối với chúng sanh, Ta tuyên bố đó là sự vô ích đối với chúng sanh, Ta tuyên bố đó là sự mê muội đối với chúng sanh. Nhưng người ta không nên khởi lên những tư duy mà khi bị chúng chi phối, người ấy có thể phá vỡ Tăng đoàn. Này các tỳ khưu, chính vì thấy sự nguy hại này của một đời sống cằn cỗi mà Ta nói như vậy.
Tattha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘tiṭṭhatu tāva tattāya ayosalākāya ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya cakkhundriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti cakkhu aniccaṁ, rūpā aniccā, cakkhuviññāṇaṁ aniccaṁ, cakkhusamphasso anicco, yampidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi aniccaṁ’.
A learned noble disciple reflects on this: ‘Forget mutilating the eye faculty with a red-hot iron nail, burning, blazing, and glowing! I’d better focus on the fact that the eye, sights, eye consciousness, and eye contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact is also impermanent.
Này các tỳ khưu, ở đây, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều suy xét như sau: ‘Hãy cứ để đó việc nhãn căn bị dùi bằng que sắt nung đỏ, bốc cháy, rực lửa, cháy ngùn ngụt. Nào! Ta hãy chỉ tác ý đến điều này: Mắt là vô thường, các sắc là vô thường, nhãn thức là vô thường, nhãn xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào phát sanh với nhãn xúc làm duyên – dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc – cảm thọ ấy cũng là vô thường’.
Tiṭṭhatu tāva tiṇhena ayosaṅkunā ādittena sampajjalitena sajotibhūtena sotindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti sotaṁ aniccaṁ, saddā aniccā, sotaviññāṇaṁ aniccaṁ, sotasamphasso anicco, yampidaṁ sotasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi aniccaṁ.
Forget mutilating the ear faculty with a sharp iron spike, burning, blazing, and glowing! I’d better focus on the fact that the ear, sounds, ear consciousness, and ear contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on ear contact is also impermanent.
‘Hãy cứ để đó việc nhĩ quyền bị xuyên thủng bởi một cái dùi sắt sắc bén, nung đỏ, cháy rực, bốc thành ngọn lửa. Này, ta chỉ tác ý đến điều này: nhĩ là vô thường, các âm thanh là vô thường, nhĩ thức là vô thường, nhĩ xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên nhĩ xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng là vô thường.
Tiṭṭhatu tāva tiṇhena nakhacchedanena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena ghānindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti ghānaṁ aniccaṁ, gandhā aniccā, ghānaviññāṇaṁ aniccaṁ, ghānasamphasso anicco, yampidaṁ ghānasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ …pe… tampi aniccaṁ.
Forget mutilating the nose faculty with a sharp nail cutter, burning, blazing, and glowing! I’d better focus on the fact that the nose, smells, nose consciousness, and nose contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on nose contact is also impermanent.
‘Hãy cứ để đó việc tỷ quyền bị cắt xén bởi một con dao cắt móng tay sắc bén, nung đỏ, cháy rực, bốc thành ngọn lửa. Này, ta chỉ tác ý đến điều này: tỷ là vô thường, các mùi hương là vô thường, tỷ thức là vô thường, tỷ xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên tỷ xúc... ... cảm thọ ấy cũng là vô thường.
Tiṭṭhatu tāva tiṇhena khurena ādittena sampajjalitena sajotibhūtena jivhindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti jivhā aniccā, rasā aniccā, jivhāviññāṇaṁ aniccaṁ, jivhāsamphasso anicco, yampidaṁ jivhāsamphassapaccayā uppajjati …pe… tampi aniccaṁ.
Forget mutilating the tongue faculty with a sharp razor, burning, blazing, and glowing! I’d better focus on the fact that the tongue, tastes, tongue consciousness, and tongue contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on tongue contact is also impermanent.
‘Hãy cứ để đó việc thiệt quyền bị cắt xén bởi một con dao cạo sắc bén, nung đỏ, cháy rực, bốc thành ngọn lửa. Này, ta chỉ tác ý đến điều này: thiệt là vô thường, các vị là vô thường, thiệt thức là vô thường, thiệt xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên thiệt xúc... ... cảm thọ ấy cũng là vô thường.
Tiṭṭhatu tāva tiṇhāya sattiyā ādittāya sampajjalitāya sajotibhūtāya kāyindriyaṁ sampalimaṭṭhaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti kāyo anicco, phoṭṭhabbā aniccā, kāyaviññāṇaṁ aniccaṁ, kāyasamphasso anicco, yampidaṁ kāyasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ …pe… tampi aniccaṁ.
Forget mutilating the body faculty with a sharp spear, burning, blazing, and glowing! I’d better focus on the fact that the body, touches, body consciousness, and body contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on body contact is also impermanent.
‘Hãy cứ để đó việc thân quyền bị đâm bởi một ngọn giáo sắc bén, nung đỏ, cháy rực, bốc thành ngọn lửa. Này, ta chỉ tác ý đến điều này: thân là vô thường, các đối tượng xúc chạm là vô thường, thân thức là vô thường, thân xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên thân xúc... ... cảm thọ ấy cũng là vô thường.
Tiṭṭhatu tāva sottaṁ. Handāhaṁ idameva manasi karomi—iti mano anicco, dhammā aniccā, manoviññāṇaṁ aniccaṁ, manosamphasso anicco, yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi aniccaṁ’.
Forget sleeping! I’d better focus on the fact that the mind, ideas, mind consciousness, and mind contact are impermanent. And the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact is also impermanent.’
‘Hãy cứ để đó việc ngủ. Này, ta chỉ tác ý đến điều này: ý là vô thường, các pháp là vô thường, ý thức là vô thường, ý xúc là vô thường, và bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc, cảm thọ ấy cũng là vô thường’.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati …pe… yampidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati; vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Ayaṁ kho, bhikkhave, ādittapariyāyo, dhammapariyāyo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with the painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on eye contact. They grow disillusioned with the ear … nose … tongue … body … mind … painful, pleasant, or neutral feeling that arises dependent on mind contact.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
This is the exposition of the teaching on burning.”
‘Này các Tỳ khưu, khi thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe nhiều sẽ nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc... ... nhàm chán đối với bất cứ cảm thọ nào sanh khởi do duyên ý xúc, dù là lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi đã giải thoát, trí khởi lên rằng: ‘Ta đã được giải thoát’. Vị ấy tuệ tri rằng: ‘Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa’. Này các Tỳ khưu, đây là pháp môn, là bài giảng về sự bốc cháy’. Hết bài kinh thứ tám.